Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Nhãn là một loài cây ăn trái rất quen thuộc với chúng ta. Cây cho bóng mát, những quả ngọt ngon lành và cũng cung cấp những loại dược liệu quý có tác dụng rất tốt trong y học.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-nhan-1

– Tên khoa học: Euphoria longan (Lour.) Steud.

– Họ thực vật: họ Bồ hòn (Sapindaceae).

* Mô tả:

– Cây nhãn cao 5-7m. Lá rườm rà, vỏ cây xù xì, sắc xám, nhiều cành, nhiều lá um tùm, xanh tươi luôn, không hay héo và rụng như lá các cây khác. Lá kép hình lông chim, mọc so le gồm 5 – 9 lá chét hẹp dài 7-20cm, rộng 2,5 – 5cm.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-nhan-4

Hoa và lá nhãn.

– Mùa xuân vào các tháng 2 – 3 – 4 có hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành hay kẽ lá, đài 5 – 6 răng, tràng 5 – 6, nhị 6 – 10, bầu 2 – 3 ô.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-nhan-3

Quả và hạt nhãn.

– Quả có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn (chỉ có một ô của bầu phát triển thành quả, các ô kia tiêu giảm đi). Hạt đen nhánh có áo hạt trắng bao bọc.

* Thành phần hóa học:

– Cùi Nhãn còn tươi có các thành phần sau, tính theo %: nước 77,15, tro 0,01, chất béo 0,13, protid 1,47, hợp chất có nitrogen tan trong nước 20,55, đường saccharose 12,25, vitamin A và B. Cùi Nhãn khô chứa nước 0,85, chất tan trong nước 79,77, chất không tan trong nước 19,39, tro 3,36. Trong phần tan trong nước có glucose 26,91%, saccharose 0,22%, acid tartric 1,26%, chất có nitrogen 6,309%.

– Hạt Nhãn chứa tinh bột, saponin, chất béo và tanin. Lá chứa quercetrin, quercetin, tanin.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-nhan-2

Cây nhãn tỏa bóng mát với những chùm quả sum sê.

– Cây nhãn là một trong những loại cây ăn quả được sử dụng nhiều trong cảnh quan để tạo bóng mát. Tán cây rộng, cao, lá nhiều nên rất thích hợp cho vai trò này. Có thể trồng cây nhãn trong sân vườn, biệt thự, khu du lịch,…

* Công dụng trong y học:

– Cùi Nhãn có vị ngọt, tính ấm; có tác dụng bổ tâm, an thần, kiện tỳ, làm tăng cơ nhục. Hạt có vị mặn, tính bình, có tác dụng thu liễm chỉ huyết. Vỏ quả nhãn (Long nhãn xác) có vị ngọt, tính ấm, không độc, vào kinh Phế. Có tác dụng trừ phong, chữa chóng mặt, dùng ngoài chữa bỏng và vết thương ngoài da. Lá nhãn (Long nhãn diệp) có vị nhạt, tính bình; có tác dụng chữa cảm mạo, sốt rét, an thai. Hoa nhãn (Long nhãn hoa)  sắc uống có thể chữa chứng bí tiểu tiện. Vỏ thân cây nhãn  (Long nhãn thụ bì) có tác dụng trị cam tích, đinh sang (mụn nhọt). Rễ cây nhãn (Long nhãn căn) vị đắng, chát; có tác dụng chữa khí hư bạch đới, trị giun chỉ (‘lariasis). Công năng và công dụng: Bổ ích tâm tỳ, dưỡng huyết, an thần. Làm thuốc bổ, trị chứng trí nhớ bị sút kém, hay quên, mất ngủ, hay hốt hoảng, tâm thần hồi hộp mệt mỏi, thiếu máu.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-nhan-5

Long nhãn sấy khô.

– Bộ phận sử dụng: long nhãn (cùi nhãn), lá, hạt, vỏ quả, rễ, hoa, vỏ thân cây nhãn.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây nhãn:

1. Chữa các triệu chứng kém ăn, mất ngủ, mồ hôi trộm, mệt nhọc: Cao ban long và long nhãn (đơn thuốc của Hải Thượng Lãn Ông). Còn có tên là nhị long ẩm: Cao ban long 40g, long nhãn 50g. Sắc long nhãn với nước. Thái nhỏ cao ban long cho vào nước sắc long nhãn. Đun nóng để hòa tan. Để nguội, thái thành từng miếng mỏng. Trước khi đi ngủ tối và sáng sớm uống mỗi lần 10g cao này.

2. Chữa các chứng do tư lự quá độ, buồn bực không ngủ hay quên: Nhân sâm 10g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, long nhãn 12g, toan táo nhân 12g, phục thần 12g, viễn chí 8g, mộc hương 6g, cam thảo 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần, uống khi thuốc còn ấm.

3. Bổ huyết, kiện tỳ, dưỡng tâm, an thần: Dùng cháo long nhãn cho người huyết hư Long nhãn 16g, Đại táo 15g, Ngạnh mễ (gạo tẻ) 100g nấu cháo ăn thường xuyên mỗi ngày một thang, ăn liên tục vài ba tuần.

4. Tác dụng ích khí huyết, bổ thận âm: Dùng Long nhãn 16g, Hoài sơn 16g, Giáp ngư 500g. Giáp ngư mổ bỏ ruột, cắt thành miếng rồi đem hầm với 2 vị thuốc trên, khi chín nhừ nêm gia vị vào, ăn thịt và uống nước.

5. Bổ can, thận, ích khí huyết: Dùng Câu kỷ tử 12g, Long nhãn 12g, Hoàng tinh 12g, đường kính 50g, trứng chim bồ câu 4 quả. Lấy ba vị thuốc đem rửa sạch, thái nhỏ, bỏ vào nồi thêm 3 bát nước đun sôi, sau 30 phút đập trứng chim câu vào, chia đều uống làm hai ngày, mỗi ngày một lần, trong vài tuần.

6. Bổ ích khí huyết, dưỡng tâm an thần: Long nhãn tươi 300g, đường kính trắng 500g, hai thứ bỏ vào chưng kỹ, để nguội cho vào lọ kín. Mỗi lần ăn 12-16g, ngày 2 lần.

7. Bổ huyết, điều trị chứng thiếu máu, cơ thể suy nhược, thể trạng mệt mỏi, đoản hơi: Long nhãn 16g, đương quy 12g, hoàng kỳ 12g, thục địa 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần, uống ấm.

8. Tác dụng an thần, ích trí, trị chứng mất ngủ, trí nhớ suy giảm, hay quên, lo nghĩ quá nhiều dẫn đến tâm hồi hộp, loạn nhịp, hoa mắt, chóng mặt: Dùng Long nhãn 16g, Câu đằng 12g, Toan táo nhân 10g, Thục địa 16g.

9. Trường hợp tỳ hư, ăn uống tiêu hóa kém, không ngon miệng: Dùng Bạch truật 12g, Hoài sơn 12g, Long nhãn 12g, Ý dĩ nhân 10g, Liên nhục 10g, Phục thần 12g, Cam thảo 8g. Sắc uống ngày 1 tháng.

10. Khe ngón chân lở ngứa: Hạt nhãn bỏ vỏ đen, thái mỏng, phơi khô, tán nhỏ, rắc vào.

11. Điều trị bệnh đau dạ dày, chứng mất trí nhớ. Cách làm là bạn có thể bóc lấy cùi nhãn, ép lấy nước uống hoặc ngâm cùi nhãn với chút đường trong vài tuần, sau đó lấy nước cốt hòa với nước lọc và uống dần.

12. Bỏng: Vỏ quả nhãn tán nhỏ thành bột, trộn với dầu vừng, bôi.

13. Nôn ợ: Long nhãn khô 7 quả, đốt tồn tính, tán thành bột, chia đều, uống mỗi ngày 3 lần.

14. Chảy máu do chấn thương: Hạt nhãn tán nhỏ, đắp vào vết thương.

Chú ý: Bên ngoài cảm mạo, bên trong uất hoả, đầy bụng, ăn uống đình trệ, cấm dùng.

* Lưu ý khi trồng cây nhãn:

– Nhân giống:

  • Gieo hạt: (chủ yếu để làm gốc ghép) Hạt lấy về cần xử lý gieo ngay. Ngâm hạt nửa ngày, vớt ra, ngâm vào nước vôi trong, sau 2-3 giờ vớt ra, ủ vào đất cát ẩm 2-4 ngày. Khi ngâm hạt nhú ra đem gieo.
  • Chiết cành là biện pháp chủ yếu.

– Nếu có đủ nước tưới thì nên trồng vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 – 11 vì đến mùa nắng có đầy đủ ánh sáng cây sẽ phát triển tốt hơn. Nếu trồng vào mùa mưa, khoảng tháng 4 – 5 thì cần chú ý thoát nước vì nếu mưa nhiều đất bị lèn… nhãn bị chết do nghẹt rễ.

– Bộ rễ nhãn chịu nước kém, nếu bị ngập trong thời gian dài sẽ bị thối rễ, chết cây. Do đó, muốn trồng nhãn cần chú ý đến việc bờ bao, cống bọng thoát nước cho nhãn trong mùa mưa lũ. Nên trồng nhãn trên mô, mô đất đắp thành hình tròn rộng 6 – 8 tấc, cao 5 – 7 tấc. Đất mô trộn với 10 – 15 kg phân chuồng hoai, tro trấu, 0,5kg phân lân (nên sử dụng lân Ninh Bình hoặc lân Văn Điển) và nên chuẩn bị mô từ 15 – 30 ngày trước khi trồng.

– Làm cỏ, xới xáo: Cần thường xuyên làm cỏ để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế sự cư trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại. Kết hợp xới xáo đất giúp đất thông thoáng nhằm giúp bộ rể tăng cường trao đổi chất, không dùng cuốc lưỡi và không xới sâu vì làm tổn thương bộ rễ. Tuyệt đối không diệt cỏ bằng các hóa chất trong vườn nhãn nói riêng và vườn cây ăn trái nói chung.

– Tưới, tiêu nước: Nhãn rất cần nước, nếu được tưới đầy đủ nhãn sẽ phát triển nhanh, ra hoa, kết trái tốt. Nhưng nhãn là cây chịu úng kém nên cần có hệ thống thoát nước trong mùa mưa. Đối với những vườn có nguy cơ bị ngập trong mùa mưa lũ thì nên có hệ thống bờ bao vững chắc, kịp thời bơm nước ra khỏi vườn khi cần thiết.

– Bón phân: Tùy vào tình trạng cây, tuổi cây, điều kiện đất đai mà có chế độ bón phân khác nhau. Cây 1 – 3 năm tuổi: mỗi năm bón 1 – 1,5kg/gốc loại phân NPK 20 – 20 – 15. Lượng phân này được chia đều làm 3 – 4 lần bón trong năm, năm đầu nên pha phân vào nước tưới.

– Cây trên 3 năm tuổi: Cây càng lớn lượng phân bón càng tăng, năm trúng mùa bón nhiều hơn năm thất mùa. Trung bình, mỗi năm bón cho mỗi gốc 3 – 5kg loại phân PNK 15 – 10 – 15 hoặc 20 – 20 – 15.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

 

 

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Cây măng cụt là một loài cây ăn quả đặc sản của vùng Nam Bộ, ngoài ra, cây măng cụt còn có nhiều tác dụng trong việc chữa bệnh mà nhiều người chưa biết.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mang-cut-1

– Tên thường gọi: cây măng cụt, sơn trúc,…

– Tên khoa học:  Garcinia mangostana L.

– Họ thực vật: Clusiaceae –  họ Bứa.

* Mô tả:

– Măng cụt là một loại cây thân gỗ, to, có thể cao tới 20m. Lá dày, dai, màu lục sẫm, hình thuôn dài 15-20cm, rộng 7-10cm. Hoa đực cụm 3-9 hoa có lá bắc.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mang-cut-2

Hoa măng cụt.

– Hoa lưỡng tính có cuống có đốt. Quả hình cầu, to bằng quả cam trung bình, vỏ ngoài màu đỏ tím dày cứng, trong đỏ tươi như rượu vang, dày xốp, phía dưới có lá dài, phía đỉnh có đầu nhụy. Trong quả có từ 6 đến 18 hạt, quanh hạt có áo hạt trắng, ăn ngọt thơm ngon.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mang-cut-3

Quả măng cụt.

* Thành phần hóa học:

– Vỏ quả măng cụt có chứa từ 7–13% tanin. Ngoài ra còn có chất nhựa và chất mangostin (C20H22O5), có tinh thể hình phiến nhỏ, màu vàng tươi, không vị, tan trong rượu, ether và chất kiềm, không tan trong nước. Độ chảy 175 oC.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mang-cut-4

Cây măng cụt được trồng để lấy bóng mát.

– Cây măng cụt có tán lá rộng, lá dày nên rất thích hợp cho trồng cây để lấy bóng mát trong sân vườn, khu du lịch,…

* Công dụng trong y học:

– Vỏ măng cụt có chứa chất Garcinone E. Nhờ đó, vỏ măng cụt có tác dụng gây cản trở sự hình thành và phát triển của các tế bào ung thư gan, dạ dày và phổi. Ngoài ra, hợp chất xanthone trong măng cụt (thuộc nhóm chống oxy hóa) cũng có tác dụng kháng viêm mạnh mẽ và hỗ trợ tiêu diệt các tế bào ung thư. Chất này chứa nhiều trong vỏ.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mang-cut-5

Vỏ quả măng cụt phơi khô làm thuốc.

– Có rất nhiều chế phẩm được bào chế từ cơm trái măng cụt. Người ta tìm thấy trong cơm trái măng cụt có chứa hoạt chất polyphenol là xanthon, được ghi nhận có những tác dụng như sau :  Là hoạt chất có tác dụng chống ôxy hóa, giúp làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể. Kháng nấm: xanthon có đặc tính kháng nấm và kháng vi khuẩn, bao gồm cả những vi khuẩn có khả năng chống kháng sinh. Kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể, kháng dị ứng, nhất là những dị ứng xảy ra trong ruột. Có tác dụng làm giảm cholesterol xấu trong cơ thể, nên rất có ích cho những người muốn giảm cân. Có tác dụng bảo vệ tế bào gan. Có tác dụng ức chế những tế bào ung bướu, nên có ích trong việc chống ung thư. Giúp giảm đau, được dùng để điều trị những chứng đau, viêm sưng, làm hạ sốt. Và đang được nghiên cứu để chữa trị những chứng bệnh như Parkinson và Alzheimer.

– Bộ phận dùng: vỏ quả.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây măng cụt:

1. Trị tiêu chảy: Dùng vỏ măng cụt khô 24g, hạt thì là (có nơi gọi hạt bồng sàn) mỗi thứ 2g. Đem tất cả nấu lấy nước, uống 2 lần trong ngày.

2. Chữa lỵ: Dùng vỏ quả măng cụt 6g, rau sam, rau má, cỏ nhọ nồi, cỏ sữa (mỗi thứ 8g), trà xanh (loại ngon) 6g, cam thảo, vỏ quýt (mỗi thứ 4g), gừng 3 lát. Đem tất cả nấu lấy nước để uống trong ngày.

3. Làm mờ nám da: Rửa sạch vỏ măng cụt, lấy phần thịt vỏ xay nhuyễn, thêm chanh, mật ong vào trộn đều thành hỗn hợp sệt. Thoa hỗn hợp này lên mặt, rửa sạch sau 15–20 phút. Chanh và mật ong có khả năng giảm nám và tàn nhang hữu hiệu, kết hợp với vỏ măng cụt càng tăng hiệu quả.

4. Mặt nạ vỏ măng cụt chống mụn: Phơi khô vỏ măng cụt, nghiền một vỏ khô thành bột rồi trộn đều với 4 thìa súp dầu ô-liu, thoa hỗn hợp lên mặt, để từ 30–60 phút, rửa sạch. Thực hiện 1 lần/tuần.

5. Khử mùi hôi miệng:  Lấy phần thịt vỏ của một quả măng cụt xay nhuyễn với mật ong và 200ml nước, lọc bớt xác và uống. Để tăng vị thơm ngon, bạn có thể cho thêm đường và đá vì vỏ măng cụt chứa nhiều tannin, vị đắng chát.

6. Hỗ trợ phòng ngừa ung thư:  Vỏ măng cụt phơi khô, đun với nước uống. Tuy nhiên, vỏ ngoài của măng cụt hơi đắng, nên trong Đông y thường kết hợp với một số vị khác để làm thuốc. Bạn có thể kết hợp vỏ măng cụt với hạt mùi, hạt thìa, cam thảo, vỏ quýt, gừng… Bạn có thể kết hợp theo công thức vỏ quả măng cụt 6g, rau sam, rau má, cỏ nhọ nồi, cỏ sữa (mỗi thứ 8g), trà xanh (loại ngon) 6g, cam thảo, vỏ quýt (mỗi thứ 4g), gừng 3 lát. Đem tất cả nấu lấy nước để uống trong ngày.

* Cách trồng và chăm sóc cây măng cụt:

– Cách gieo hạt: Hạt măng cụt mau mất sức nẩy mầm, do đó không nên dự trữ hạt lâu. Chọn hạt to, nặng > 1g từ những trái măng cụt chín. Rửa sạch hạt và gieo vào bầu đất hoặc liếp ươm. Vật liệu của bầu hoặc liếp ươm là tro trấu, bột sơ dừa hoặc cát mịn trộn phân hữu cơ. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm, 20-30 ngày sau hạt sẽ nẩy mầm. Khi cây lớn thì chuyển sang bầu lớn chú ý không làm tổn thương rễ vì rễ măng cụt không có lông hút và rất yếu.

– Chuẩn bị đất: nên trồng măng cụt trên mô của đất liếp, có bờ bao cống bọng để thoát nước tốt trong mùa mưa, cung cấp đủ nước trong mùa nắng.

– Mật độ khoảng cách: măng cụt có tán cây lớn, tán lá sum xuê, do đó nên trồng thưa cây cách nhau 7-10m, mật độ 100-200 cây/ha, với khoảng cách trồng này cây sẽ giao tán sau 30 năm trồng.

– Chuẩn bị mô: mô cần được chuẩn bị 1-2 tháng trước khi trồng. Mô hình tròn có đường kính 0,6 –0,8m, cao 0,3-0,5m tùy theo địa hình cao hay thấp. Đất mô nên trộn với 10-20 kg phân chuồng hoai và 200g phân NPK 15-15-15.

– Kỹ thuật trồng: Khi cây con được 2 năm tuổi thì đem đi trồng, lúc này cây có 12-13 cặp lá và 1 cành cấp 1, khoét lỗ trên mô vừa với bầu đất, nhẹ nhàng đặt cây vào, lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữa cây không bị đổ ngã. Khi đặt cây cần cẩn thận để không bị hư rễ.

– Trồng cây che bóng và cây chắn gió: Măng cụt không chịu được ánh nắng trực tiếp, do đó cần che bóng cho cây trong 4-5 năm đầu. có thể trồng xen măng cụt với chuối hoặc trồng dưới tán dừa (hạn chế trồng chuối sứ vì chuối sứ có bộ rễ phát triển mạnh nên sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với măng cụt). Cần trồng cây chắn gió cho măng cụt vì gió có thể làm hại lá và trái.

– Tưới nước: Bộ rễ măng cụt không có lông hút và phát triển kém cho nên cần cung cấp đầy đủ, thường xuyên cho cây trong mùa nắng và thoát nước tốt trong mùa mưa. Nếu thiếu nước cây sẽ chậm lớn. Đặc biệt giai đoạn sau trổ hoa, mang trái, nếu thiếu nước trái măng cụt nhỏ và có phẩm chất kém.

– Tỉa cành, tạo tán: Khi cành còn nhỏ cần tỉa bỏ các cành vượt, cành đan chéo nhau để tạo tán cho cây cân đối sau này.

– Khi cây đã cho trái, sau thu hoạch cần tỉa bỏ cành sâu bệnh, giập gãy, cành vượt. Chú ý không tỉa quá nhiều làm cho gốc trơ trụi, ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào gốc sẽ gây hại cho cây. Để tạo tán cho cây lùn và tròn đều thì tiến hành cắt ngọn khi cây cao 8-10 m.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

 

 

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

Khi mà sân vườn không chỉ là nơi để ta ngắm nhìn cho tâm hồn thư thái, nơi cho ta bóng mát giữa thành phố gắt nắng, mà còn là nơi thoang thoảng mùi quả chín, cho ta những trái cây ngọt lành, gợi nhớ nhiều kỉ niệm tuổi thơ ,… Một khu vườn đa năng như thế, tại sao không?

Ecolandscape sẽ giới thiệu cho các bạn 5 loài cây ăn quả vừa cho bóng mát, vừa cho trái ngon, lại vẫn đảm bảo làm đẹp cho sân vườn nhà bạn.

1.Cây dâu da đất:

Đây là loài cây lớn, dễ trồng, dễ chăm sóc và phù hợp với điều kiện khí hậu ở nhiều vùng khác nhau ở nước ta.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-1

(Hình ảnh minh họa)

Cây có tán rộng, tỏa bóng mát.Từng chùm quả lủng lẳng, màu sắc tươi tắn chắc chắn sẽ là một điểm nhấn tuyệt vời cho khu vườn của các bạn. Quả dâu da đất chua chua ngọt ngọt, sẽ là một loại trái cây rất kích thích vị giác cho cả nhà đây.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-2

(Hình ảnh minh họa)

2.Cây vú sữa:

Cây vú sữa là một loài cây quen thuộc và dân dã của Việt Nam. Thân cây cao lớn, xù xì đẹp mắt. Lá rậm và dày nên tỏa bóng mát rất tốt.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-3

(Hình ảnh minh họa)

Quả vú sữa sai lúc lỉu trên cành, vị ngọt ngào với mùi thơm thoang thoảng, da nhẵn bóng như những chiếc đèn lồng lấp ló trong vòm lá, sẽ tô điểm cho một góc vườn của bạn.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-4

(Hình ảnh minh họa)

3.Cây khế:

Danh hiệu cây đa năng thì không thể thiếu cây khế được.Cây khế dễ trồng và không đòi hỏi chăm sóc nhiều.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-5

(Hình ảnh minh họa)

Cây khế vừa tỏa bóng mát, quả có thể dùng để ăn tươi, hay chế biến các món ăn ngon lành, còn các bộ phận như lá, rễ, hoa, vỏ cây khế thì dùng làm thuốc trị nhiều bệnh khác nhau.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-6

(Hình ảnh minh họa)

4.Cây xoài:

Đây là loại cây quá quen thuộc với mỗi chúng ta đúng không? Xoài có nhiều giống khác nhau, tùy nhu cầu và sở thích mà các bạn có lựa chọn thích hợp.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-7

(Hình ảnh minh họa)

Quả xoài ngoài dùng để ăn tươi còn có thể nấu chè, rất ngon và lành. Vỏ quả, hạt, vỏ thân cây hay đến cả mủ xoài cũng là những bài thuốc đông y tuyệt vời.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-8

(Hình ảnh minh họa)

5.Cây me:

Đây là loài cây gỗ, tỏa bóng mát rất tốt, lá cây hơi rủ xuống trông rất lãng mạn. Các bộ phận như quả, lá, hạt, thân cây hay vỏ cây đều có tác dụng làm thuốc được.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-9

(Hình ảnh minh họa)

Vào mùa ra quả, cây me trông càng độc đáo hơn nhiều. Những quả cong cong màu xám nổi bật giữa nền xanh của lá, hương vị chua chua lan tỏa khắp vườn.

su-dung-cay-an-qua-tao-bong-mat-trong-thiet-ke-san-vuon-10

(Hình ảnh minh họa)

Chanh Trần.