Ảnh hồ sơ của Như Phượng

Giới thiệu:
Rau kinh giới là một loại rau gia vị quen thuộc được dùng trong nhiều món ăn, bên cạnh đó loại rau này còn có công dụng chữa bệnh tuyệt vời, rất tốt cho sức khỏe.
– Tên khoa học: Elsholtzia cristata
– Họ:  Hoa môi – Lamiaceae

kinh-gioi-01

Mô tả:
– Cây kinh giới cao khoảng 30 – 50 cm.
– Có thân vuông, mọc đứng, có lông mịn.
– Lá mọc đối, phiến thuôn nhọn, dài 5 – 8cm, rộng 3cm, mép có răng cưa, cuống lá dài 2 – 3cm.
– Quả gồm 4 quả hạch nhỏ, nhẵn, cây ra hoa vào 2 mùa là mùa hạ và mùa thu.
– Hoa nhỏ, không cuống, màu tím nhạt, mọc thành bông ở đầu cành.

kinh-gioi-02

Thành phần hóa học:
– Trong Kinh giới có d- Menthone, Menthone, d- Limonene và có chừng l,8% tinh dầu.

Công dụng:
1. Dùng làm rau gia vị:
– Chủ yếu dùng làm rau ăn kèm với các món ăn: bún đậu mắm tôm, bún chả Hà Nội,…
– Gia vị cho các món ăn: dồi trường xào rau kinh giới, các món nộm rau muống, nộm ngó sen, nộm sứa,…

kinh-gioi-03
2. Dùng làm thuốc:

kinh-gioi-04

– Chữa trúng phong, cấm khẩu.
– Chữa nhức đầu ê ẩm, đau mình.
– Trị rôm sẩy cho trẻ sơ sinh.
– Chữa mụn nhọt.
– Chữa ho.
– Chữa cảm hàn.
– Chữa dị ứng.
– Trừ ứ, cầm máu.
Theo Đông y, kinh giới có tác dụng tiêu độc, cầm máu, dùng chữa cảm cúm, nhức đầu, phong thấp co cứng tay chân, không ra mồ hôi; giúp ra mồ hôi, lợi tiểu, chống say nắng (cảm thử), đau bụng phù nề và giải độc histamin (do ăn cua, cá).
3. Dùng làm đẹp:
– Rau kinh giới giúp làm trắng da: Rau kinh giới còn có tác dụng giúp làm trắng da hiệu quả, vì kinh giới chứa nhiều tinh dầu, có vị cay, tính ấm, đặc biệt tốt khi trị liệu các bệnh về da như mẩn ngứa, dị ứng, kích thích ra mồ hôi làm khô thoáng lỗ chân lông.

kinh-gioi-05

Các bài thuốc dân gian:
– Rau kinh giới chữa trúng phong, cấm khẩu: Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.
– Chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình: toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống.
– Chữa nhức đầu ê ẩm, đau mình: rau kinh giới 20g sắc uống ngày 3 lần.
– Chữa mụn nhọt: kinh giới tuệ sống 12g; mã đề, bồ công anh, kim ngân, thổ phục linh, ké đầu ngựa, cam thảo nam, mỗi thứ 10g; thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
– Trị rôm sảy hiệu quả cho trẻ sơ sinh: kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.
– Chữa cảm hàn: kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.
– Chữa ho: kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.
– Chữa dị ứng: dùng bộ phận trên mặt đất của cây kinh giới, phần ngọn mang hoa (kinh giới tuệ) thì càng tốt. Đem kinh giới sao cho nóng già, gói vào mảnh vải gạc, hoặc mảnh lưới vó gai càng tốt. Tiến hành chà xát khắp chỗ ngứa. Làm nhiều lần sẽ giảm ngứa nhanh.
– Trừ ứ, cầm máu: kinh giới đốt tồn tính, nghiền nhỏ. Ngày 2 -3 lần, mỗi lần 8g, uống với nước. Dùng cho chứng thổ huyết, chảy máu cam, tiểu ra máu.
– Cháo kinh giới cho người cao tuổi tê bại tay chân hoặc di chứng bại liệt nửa người: kinh giới (cả cuống lá bánh tẻ) 1 nắm, bạc hà bằng nửa kinh giới, đậu hạt (xay vỡ) 80g, gạo lứt 100g. Sắc lấy nước bỏ bã, nước sắc nấu với gạo và đậu thành cháo, chín cháo thêm ít dấm, muối, ăn khi đói.
Lưu ý: Người có chứng biểu hư tự ra mồ hôi, tỳ yếu hay đại tiện lỏng, thận trọng khi dùng cháo kinh giới.
– Rau kinh giới giúp làm trắng da: Kinh giới, tía tô, ngải cứu, mỗi loại 100mg, rửa sạch, đun sôi với 500ml nước sạch. Đổ nước lá vừa sôi ra một chiếc chậu nhỏ, bỏ thêm một nhúm muối và vắt vào ½ trái chanh. Sau đó, rửa sạch mặt bằng nước thường rồi đưa mặt đến gần chậu nước lá để hơi nước còn nóng đang bốc lên hấp thụ vào mặt, thời gian này dao động từ 20 đến 30 phút. Thực hiện thao tác này mỗi ngày một lần, tốt nhất vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng khi vừa tinh giấc.

Cách trồng kinh giới tại nhà:
Trồng rau trong thùng xốp:

kinh-gioi-06
– Đất trồng hữu cơ hoặc trộn đất phù sa với phân chuồng ủ hoai, tro trấu.
– Hạt Kinh giới có tỷ lệ này mầm cao do đó không cần ngâm ủ. Trộn hạt kinh giới với tro trấu rồi rải đều. Chú ý khoảng cách giữa các cây 30cm, cây trên hàng 35cm. Dùng bình tưới nước phun sương tưới ẩm đất rồi dùng tấm bìa cát tông che lại. Nhớ tưới nước hàng ngày để hạt đủ ẩm nảy mầm.
– Bước sang ngày thứ 3, có thể tháo tấm che ở trên để hạt hấp thu ánh sáng tốt và dễ nảy mầm hơn.
– Tưới nước đều đặn, 2 lần một ngày đặc biệt vào mùa khô. Khi cây kinh giới có lá con cứng cáp thì tỉa bớt cây để đảm bảo mật độ vừa phải. Cây cách cây khoảng 20-25 cm.
– Phân bón: Bón lần thứ nhất vào lúc cây cao 7-10 cm. Pha loãng với nước để tưới cho cây. Bón lần hai vào lúc cây mọc cao 17 cm ngâm  khô dầu thối nước để bón. Lần thứ ba, vào lúc cây đã cao bón sulfat đạm pha với nước để tưới, lúc tưới không để nước dính vào lá cây, dễ làm hại cây.
– Sau 30 – 35 ngày chăm sóc cây có thể hái ngọn ăn dần được rồi, ngừng thu hái khi cây ra hoa. Muốn cây sống bền, khi cây ra hoa nên lấy kéo cắt hết hoa đi để cây phát triển cành lá.
– Sau mỗi lần thu hoạch bạn cần bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây.

Như Phượng
(Nguồn: Internet)

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu:

– Cây na là một loại cây ăn trái phổ biến ở nước ta. Quả na có nhiều dưỡng chất quý tốt cho sức khỏe và sắc đẹp. Cây na cũng chứa những bài thuốc hữu hiệu mà nhiều người chưa biết.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-na-1

– Tên thương gọi: cây na, cây mãng cầu ta, mãng cầu dai, mãng cầu,…

– Tên khoa học: Annona squamosa.

– Họ thực vật: họ Na Annonaceae.

* Mô tả:

– Cây na là một loài cây thân gỗ, thường cao từ 2-8m, vỏ có nhiều lỗ bì nhỏ, tròn, trắng. Lá hình mũi mác, tù hay nhọn, hơi mốc mốc ở phần dưới, hoàn toàn nhẵn, thường là mềm, dài 10cm, rộng 4cm, có 6-7 cặp gân phụ.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-na-3

Hoa của cây na.

– Hoa nhỏ, màu xanh lục, mọc đối với lá, có cuống dài 2-3cm. Hoa thường rũ xuống, có 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa ngoài hẹp và dày, các cánh hoa ở trong rất hẹp hoặc thiếu hẳn, nhiều nhị và nhiều lá noãn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-na-2

Quả na chín và hạt na.

– Quả mọng kép, màu xanh mốc, gần như hình cầu, đường kính 7-10cm, có từng múi, mỗi múi ứng với một lá noãn. Thịt quả trắng. Hạt đen có vỏ cứng.

* Thành phần hóa học:

– Trong quả có 72% glucose, 14,52% saccharose, 1,73% tinh bột, 2,7% protid và vitamin C. Trong lá có một alcaloid vô định hình, không có glucosid, lá xanh chứa 0,08% dầu. Hạt chứa 38,5-42% dầu, trong đó các acid béo (acid myristic, palmitic, stearic, arachidic, hexadecanoic và oleic) chiếm tỷ lệ lớn. Trong hạt có một alcaloid vô định hình gọi là anonain. Chất độc trong hạt và rễ là các glycerid và các acid có phân tử lớn. Lá, vỏ và rễ chứa acid hydrocyanic. Vỏ chứa anonain.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-na-5

Cây na trồng trong sân vườn.

– Cây na được trồng phổ biến trong sân vườn chủ yếu là để lấy quả ăn. Cây na cũng cho bóng mát, khi ra quả thì nhìn cây sẽ rất độc đáo, sẽ tạo điểm nhấn trong khu vườn nhà bạn.

* Công dụng trong y học:

– Quả na chín: Quả na chín giàu vitamin C, vitamin B, tinh bột, protein, các acid béo nên có công dụng bổi bổ sức khỏe đặc biệt đối với phụ nữ sau sinh. Ngoài ra, quả na còn có một số giá trị sức khỏe khác như bảo vệ chống lại nhiễm trùng nướu răng, tăng sự thèm ăn, cải thiện sức khỏe của da, hỗ trợ vệ sinh răng miệng, cải thiện sức khỏe răng miệng, làm giảm mệt mỏi, cải thiện sức khỏe của phổi và làm giảm cảm giác tê ở chân. Hàm lượng chất xơ cao trong loại quả này giúp làm giảm cholesterol trong máu. Nó ngăn chặn sự hấp thu cholesterol trong ruột, từ đó cản trở sự hình thành của các tế bào gây ung thư trong ruột kết và bảo vệ niêm mạc ruột tránh phải tiếp xúc với các chất độc hại.

– Quả na ương (khi na sắp chín) có chữa chất tanin, một chất có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy, kiết lị rất hiệu quả.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-na-4

Quả na điếc để làm thuốc.

– Quả na điếc (quả lúc đang lớn bị một loài nấm làm hỏng, khô xác, có màu nâu đỏ tím): là vị thuốc được dùng phổ biến trong Đông y. Chẳng hạn, để chữa tiêu chảy, kiết lỵ,…

– Bộ phận dùng: quả, lá, rễ, vỏ cây na.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây na:

1. Điều trị bệnh tiêu chảy, kiết lị rất hiệu quả. Lấy 30g na ương, bỏ hạt, thái nhỏ, sắc uống 2 lần mỗi ngày.

2. Chữa ho, viêm họng: Quả na điếc (50g), nhân hạt gấc (20g), sinh địa (50g), rễ xạ can (30g), cam thảo dây (25g), lá bạc hà (50g), lá chanh (25g), lá táo (25g). Tất cả phơi khô (riêng quả na điếc đốt tồn tính), giã nhỏ, tán bột, rồi trộn với 150g đường đã nấu thành sirô để làm viên, mỗi viên 0,5g. Người lớn: ngày uống 6-8 viên, chia làm hai lần; trẻ em: 3-6 viên. Dùng 3-5 ngày.

3. Chữa sốt rét với quả na điếc: Quả na điếc (40g), giun khoang cổ (80g), phèn phi (20g). Quả na điếc đập vỡ vụn, tẩm rượu, sao vàng. Giun lộn trái, rửa sạch, tẩy bằng rượu, phơi khô, sao vàng. Hai thứ trộn với phèn phi, tán bột mịn và luyện với nước tỏi làm viên bằng hạt đỗ xanh. Người lớn: Ngày uống hai lần, mỗi lần 10 viên.

4. Chữa nhọt ở vú: Quả na điếc phơi thật khô, tán thành bột, rồi hòa với giấm, bôi nhiều lần trong ngày.

5. Chữa tiêu chảy, kiết lị: Quả na điếc (20g, đốt tồn tính), cỏ lào (ngọn non, 50g), gạo tẻ (30g, rang thật vàng). Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm ba lần trong ngày.

6. Để chữa bong gân, chạm thương: lấy lá na 20 g, quả đu đủ xanh 10 g, vôi tôi 5 g, muối ăn 5 g, tất cả giã nát, hơ nóng, đắp vào vùng tổn thương. Ngày làm một lần.

7. Chữa sốt rét. với rễ na: Lấy 50 g rễ na sắc uống với 30 g rễ và lá cây ngâu rừng, 30 g rễ xoan rừng. Ngoài ra, rễ na 30-50 g thái nhỏ, rửa sạch, sao qua, sắc uống có tác dụng tẩy giun đũa.

8. Chữa mụn nhọt sưng tấy: Vò khoảng 20 chiếc lá na rồi giã nhỏ đắp lên chỗ mụn nhọt bị sưng tấy.

9. Hạt na có tác dụng trừ chấy rận: Lấy hạt na giã nhỏ, nấu lấy nước gội đầu hoặc giặt quần áo, cũng có thể ngâm hạt na (đã giã nhỏ) vào rượu, sau đó dùng rượu vò đầu hoặc bôi vào tóc.

Khi gội đầu, tuyệt đối không để nước hạt na bắn vào mắt vì nhân hạt na rất độc. Trong khi ăn quả na chín, nếu lỡ nuốt hạt cũng không sao vì lớp vỏ cứng bên ngoài đã bao bọc nhân hạt na, khiến chất độc không tiếp xúc được với hệ tiêu hóa.

* Cách trồng và chăm sóc cây na:

– Nhân giống bằng hạt: do hạt có vỏ cứng bao quanh nên có thể bảo quản được 2 – 3 năm. Xử lý hạt bằng cách: xóc hạt với cát cho sứt vỏ, hoặc xử lý axit sunfuric, ngâm nước nóng 55 – 60oC trong 15 – 20 phút, hạt có thể nảy mầm sau 2 tuần lễ. Trồng từ hạt sau 2 – 3 năm cây có thể cho trái.

– Nhân giống vô tính bằng biện pháp ghép cành: Trước hết phải chọn những cây mẹ có những đặc tính ưu việt như: trái to ít hạt, hạt nhỏ, độ đường cao, dễ vận chuyển (múi dính thành một khối).

– Đặc điểm sinh thái:

 Na ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Tuy chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu và không bón phân thì chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm).

 Na chống úng kém nhưng chống hạn tốt. Ở đất cát ven biển hay ở đất cao hạn gặp mùa khô, rụng hết lá, khi mùa mưa trở lại vào tháng 4 – 5 lại ra lá, ra hoa.

Na tương đối chịu rét. Mùa đông ngừng sinh trưởng, rụng hết lá mùa xuân ấm áp lại ra đợt lá mới.

– Làm đất, bón lót và trồng cây

Đào hố: Hố trồng được chuẩn bị trước 2-3 tháng, sâu 0,5m, rộng 0,5m, hình vuông, chữ nhật hoặc hình tròn.

 Bón lót mỗi hố 20-30g phân chuồng hoai mục + 0,2kg supe lân trộn đều với đất, ủ trước 2-3 tháng

Cây trồng ở giữa hố, bầu đặt ngang với mặt đất (không trồng sâu gây nghẹt rễ, sinh trưởng kém), tưới nước, ấn cho chặt gốc, duy trì độ ẩm 70-80%.

 – Kỹ thuật chăm sóc:

Tưới nước: Trong thời kỳ cây còn nhỏ cần tưới nước quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc, dùng rơm rác mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc.

Làm cỏ: Làm cỏ cần tiến hành thường xuyên, tùy theo đặc điểm của từng vùng ta có cách thức xử lý cỏ phù hợp khác nhau, phơi khô cỏ sau đó tủ lại xung quanh gốc cây.

 Bón phân: Trong 3 năm đầu cần bón nhiều đạm để cây sinh trưởng thân, lá tốt. Bón NPK tỷ lệ 2:1:1. Cứ 1-2 tháng bón một lần khi thời tiết mưa ẩm. Mỗi cây bón 0,1-0,2kg urê + 0,05-0,1kg kali + 0,2-0,5kg supe lân, cách gốc 30-50cm. Phân chuồng bón 30-50kg, cách gốc 50-60cm vào hai hốc đối xứng (đông-tây hoặc nam-bắc).

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

 

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Cây vả là một loài cây dân dã và quen thuộc của người dân Việt Nam. Quả vả có thể làm thành nhiều món ngon độc đáo, ngoài ra cây vả còn có công dụng tuyệt vời trong y học.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-va-1

– Tên gọi khác: cây vả, mác ngoa, sung lá rộng,…

– Tên khoa học: Ficus auriculata.

– Họ thực vật: họ Dâu tằm (Moraceae).

* Mô tả:

– Cây vả thuộc cây gỗ vừa có thân và cành to, cây thường xanh nhưng trồng xứ lạnh bị rụng lá vào mùa Đông, lá hình tim gần như tròn có kích thước lớn phiến lá to. Quả vả to bẹp rộng đến 4 cm, có lông vàng vàng.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-va-5

Lá vả.

– Cụm hoa mọc dày đặc trên thân hay trên cành già, gần hình phễu, đỉnh cụt, đáy thót, đường kính 4 – 5cm, lá bắc tổng bao 3, hình tam giác nhọn. Hoa đực có cánh đài 4, nhị 2. Hoa cái có 3 cánh đài dính ến ận đỉnh và bao kín ầu. ầu thuôn ở gốc, vòi gần tận cùng.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-va-4

Quả vả xanh.

– Quả vả mọc thành chùm trên những cành già hoặc ở gốc thân, trên những nhánh riêng không có lá. Khi non quả có vỏ màu xanh lục, có lông mịn, khi chín có màu đỏ thắm. Cây vả mọc nhanh, tái sinh chồi mạnh.

* Thành phần hóa học:

– Quả vả được chứng minh khi phân tích trong 100 gam quả vả sấy khô có chứa: protein 3,3 gam, chất béo 0,93 gam, đường 47,92 gam, các vitamin thuộc nhóm B như B1 0,085mg, B2 0,082mg, B3 0,619mg, B5 0,434mg, B6 0,106mg, B9 9µg, PP 0,3mg và C 1,2mg. Tổng lượng vitamin chiếm khoảng 37% trọng lượng quả khô. Một số lượng lớn các chất khoáng và vi lượng chiếm hơn 70%, cao nhất là calcium là 162mg (tỉ lệ 16%), magnesium 68mg (9%), còn lại như phosphor (16%), sodium (14%), sắt (8%), kẽm (6%), đồng, mangan… Ngoài ra quả vả còn cung cấp nhiều chất ở dạng hợp chất flavonoit và polyphenol, chất nhầy và pectin.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-va-3

Quả vả chín.

– Các nghiên cứu thành phần hoạt chất cho thấy quả vả rất tốt cho những người ăn kiêng vì nhiều chất xơ (9,8 gam) và ít năng lượng (100 gam khô cho 250kcal).

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-va-2

Cây vả tỏa bóng mát trong sân vườn.

– Cây vả có lá to rất thích hợp trồng để lấy bóng mát. Những quả vả mọc trên thật sẽ đem lại sự độc đáo cho khu vườn của bạn.

* Công dụng trong y học:

– Đông y cho rằng quả vả có vị ngọt tính bình, tác dụng làm mạnh dạ dày, nhuận tràng, thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, lợi tiểu. Trong quả vả chứa nhiều thành phần dinh dưỡng, tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, kiện vị, cầm tiêu chảy. Thích hợp sử dụng cho người phế nhiệt, khản tiếng, tỳ vị hư yếu, tiêu hóa kém, trẻ em tiêu chảy lâu ngày, táo bón. Các nghiên cứu cho biết quả vả có khả năng chống ung thư. Rễ vả, lá vả có tác dụng tiêu thũng giảm độc, tiêu viêm và chỉ thống.

– Món hầm từ quả vả xanh với sườn heo hoặc móng giò heo rất bổ dưỡng cho phụ nữ sau khi sinh, có tác dụng lợi sữa, an thần, trợ tiêu hóa.

– Quả Vả chín phơi khô rồi chưng với đường trở thành món mứt quả Vả có vị ngon  không thua gì mứt quả chà là nước ngoài, rất tốt cho sức khỏe của người già cao tuổi.

– Quả Vả khô chứa các a-xít béo omega-3 và omega-6 cùng với phenol. Đây là những chất giúp ngừa bệnh tim mạch vành.

– Quả Vả cũng là một nguồn cung cấp can-xi, chất giúp củng cố xương.
– Do Vả giàu kali nên giúp điều hòa lượng đường trong máu. Điều này có lợi cho người bệnh tiểu đường. Ngoài ra, những người có chế độ ăn uống chứa sodium có thể bị mất can-xi trong nước tiểu. Hàm lượng kali cao trong quả Vả giúp phòng ngừa hiện tượng này.

– Bộ phận dùng: quả, rễ và lá.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây vả:

1. Làm thuốc tiêu độc, lợi tiểu: Đối với người có phù thũng lấy rễ và lá vả sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

2. Chữa cảm hay ngộ độc: Lấy quả vả 200 g, quả sung 200 g, lá móc mèo 50 g, rễ canh châu 50 g. Thái nhỏ phơi khô, tẩm rượu, sao vàng. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống trong ngày.

3. Làm thuốc khai vị: Lấy quả vả vừa chín tới phơi nắng hoặc sấy khô 500 g, thái nhỏ ngâm với 1 lít rượu trắng 40 độ sau 10-20 ngày. Mỗi ngày uống 2-3 lần, vào trước khi ăn 2 bữa chính và trước khi đi ngủ, mỗi lần uống 1 ly nhỏ chừng 20-30 ml.

4. Trị mụn đỏ ở mũi: Lấy nhựa cây vả bôi nhiều lần vào chỗ mụn, vài ngày liền sẽ khỏi.

5. Chữa tỳ hư, tiêu chảy lâu ngày, tiêu hóa kém: Lấy quả vả phơi khô, thái hạt lựu, sao vàng, cho đường trắng và nước sôi vào hãm lấy nước uống thay trà trong ngày. Cần uống liền một thời gian.

6. Chữa họng sưng đau: Quả vả non 100 g, lá chó đẻ 50 g, búp tre 30 g. Rửa sạch, giã nát, sao nóng rồi đắp vào cổ nơi đau rát và băng giữ lại. Ngày làm 2 lần trong vài ngày.

7. Chữa phế nhiệt khản tiếng: Lấy 150 g quả vả sắc lấy nước, cho đường phèn đủ ngọt vào và uống. Mỗi lần uống 5 g, ngày uống 3 lần.

8. Chữa trĩ, đại tiện khô cứng: Lấy 10 quả vả, ruột già lợn một khúc. Đổ nước vừa ăn, nấu nhừ, nêm gia vị vừa miệng. Ăn hết trong ngày. Hay chữa trĩ bằng cách lấy lá vả giã nát đắp vào nơi có trĩ, ngày 2-3 lần cho đến khi khỏi.

9. Làm tăng tiết sữa mẹ: Quả vả khô đem sấy giòn, tán bột. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 12 g, chiêu với nước đun sôi để nguội. Cần sử dụng liền 3-5 ngày.

10. Chữa viêm loét dạ dày, tá tràng: Lấy quả vả sấy khô tán bột, mỗi lần uống 5 g, ngày 3 lần.

11. Quả Vả xanh dùng như rau sạch, có tác dụng nhuận trường, tiêu thực, lợi sữa cho sản phụ. Người ta thường chế biến quả Vả xanh thành nhiều loại như : rau sạch ăn sống (cắt lát mỏng chấm với mắm), làm rau sạch vị chát thành rau ghém trộn cùng với các loại rau khác, hoặc kho với một số thực phẩm…

* Cách trồng và chăm sóc cây vả:

– Bộ rễ rất khỏe và ăn sâu chịu được ngập úng vì vậy có thể trồng ở bờ ao hay nơi gần nước.

– Quả tự ra trên các cành già hoặc thân cây có khẵ năng hình thành hạt gieo mọc thành cây con.

– Để sinh trưởng và phát triển, cây vả yêu cầu điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới, song có tính chịu hạn và khô cũng như lạnh khá cao.

– Là cây ưa sáng song sinh trưởng kém khi ánh sáng gay gắt, cường độ ánh sáng thấp khi đó lá mỏng, ít phân cành và các cành nhánh phân dài. Cây vả không kén đất, thích hợp với nhiều loại đất miễn là đất không bị khô hạn.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

 

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Đỗ quyên là một loài hoa giản dị, khiêm nhường nhưng không kém phần quý phái này được coi là một trong những món quà thanh tú mà thiên nhiên ban tặng. Người ta, phần nhiều yêu hoa đẹp vì sang mà ít biết rằng: trong y dược học cổ truyền, đỗ quyên còn là một vị thuốc độc đáo.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-do-quyen-1

– Tên thường gọi: cây hoa đỗ quyên, sơn thạch lựu, ánh sơn hồng, mãn sơn hồng, sơn trà hoa,…

– Tên khoa học: Rhododendron simsii Planch.

– Họ thực vật: họ đỗ quyên Ericaceae.

* Mô tả:

– Đỗ quyên là dạng cây bụi rụng lá, cao khoảng 2 m, phân cành nhiều, nhánh nhỏ mọc đứng, có vỏ màu xám đen. Lá mỏng, dạng bầu dục hay hình trứng ngược, mùa xuân lá ngắn hơn mùa hè. Kích thước trung bình của lá dài khoảng 3 đến 5 cm, rộng từ 2 đến 3 cm, đầu nhọn có múi, gốc hình nêm, mặt trên có lông thưa, mặt dưới có lông dày. Cuống lá dài từ 3 đến 5 mm, đầy lông.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-do-quyen-3

Hoa đỗ quyên.

– Hoa đỗ quyên xếp thành tán từ 2 đến 6 đóa ở cành ngọn. Đài hoa dài 4 mm, có 5 thùy, nhiều lông tơ. Tràng hoa màu hồng hoặc đỏ tươi, đỏ thẫm, hình phễu rộng, dài từ 4 đến 5 cm, có 5 thùy. Có 10 nhị, bầu có lông thô. Vòi nhụy không có lông, Quả nang hình trứng tròn, dài khoảng 8 mm, đầy lông thô.

* Thành phần hóa học:

– Phân tích thành phần dược lý cho thấy lá đỗ quyên chứa flavonoid, rhodotoxin và sparassel. Hoa chứa rhodomollin III, caroten-5,6-epoxid, lutein, gossypetin-6-galactosid, lycopen và 2 chất độc andromedotoxin, ericolin. Quả chứa rhododendrotoxin I, II, rhodojaponin I, andromedotoxin, ericolin, sparassol. Toàn cây có 3 diterpen là rhodomolein I, II, III.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-do-quyen-2

Cây đỗ quyên bonsai.

– Cây đỗ quyên thường được tạo dáng bonsai cho hoa rất đẹp và màu sắc ưa nhìn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-do-quyen-5

Cây đỗ quyên trồng chậu để trang trí sân vườn, đặt trên bàn hay trang trí nội thất.

– Cây hoa đỗ quyên cũng trồng vào chậu để làm chậu cây cảnh nội thất đặt bàn, cửa hay những nơi có vị trí ngang tầm nhìn hay trồng sân vườn làm cảnh.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-do-quyen-4

Cây đỗ quyên ở Sa Pa.

* Công dụng trong y học:

Trong cây đỗ quyên hoa vàng (hoàng hoa đỗ quyên) có độc tính cao, nếu sử dụng làm thuốc thì phải thận trọng. Nếu muốn dùng làm thuốc trong điều kiện gia đình, để đảm bảo an toàn thì chỉ nên sử dụng loại đỗ quyên có hoa màu đỏ.

– Hoa đỗ quyên có vị chua ngọt, tính ấm vào 2 kinh can tỳ, tác dụng hòa huyết, điều kinh, trừ đàm, chỉ khái, khử phong thấp, làm hết ngứa; vì vậy được dùng để chữa các chứng rối loạn kinh nguyệt, bế kinh, băng lậu, tổn thương do ngã, phong thấp, thổ huyết, chảy máu cam.

– Lá đỗ quyên vị chua, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, chủ trị ung thũng, mụn nhọt, xuất huyết do chấn thương, dị ứng, viêm khí phế quản…

– Rễ đỗ quyên vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ phong thấp, giảm đau; được dùng để chữa các chứng xuất huyết, kinh nguyệt không đều, băng lậu, trĩ xuất huyết, lỵ, viêm khớp…

– Bộ phận dùng: rễ, hoa, quả và lá.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây đỗ quyên:

1. Chữa rong kinh: hoa đỗ quyên 60g, sao với rượu rồi sắc uống.

2. Kinh nguyệt không đều, thân thể khô gầy: hoa đỗ quyên 5 bông, gan lợn 5 lạng, hành 1 củ, rượu 1/2 thìa, gia vị vừa đủ, 3 bát nước nấu sôi rồi cho hoa đỗ quyên và cùng gia vị.

3. Điều kinh, trừ phong thấp: hoa đỗ quyên 3 bông, tách rời từng cánh rửa sạch để ráo hãm uống thay trà với 200ml nước sôi kỹ.

4. Khí hư ra nhiều: hoa đỗ quyên 1 bông, móng lợn 2 bộ. Móng lợn rửa sạch bổ đôi trần nước sôi để ráo. Hoa đỗ quyên bỏ nhị rửa sạch để ráo. Cho tất cả vào nồi với 4 bát nước. Đun nhỏ lửa 1/2 giờ, nêm gia vị ăn cái uống nước.

5. Mệt mỏi bồn chồn: hoa đỗ quyên với hoa hồng đều 8g. Hãm uống nóng thay trà.

6. Chữa rong kinh: rễ đỗ quyên 30g, kim anh tử 30g, tuyền phúc hoa 24g, tây thảo 15g. Sắc lấy nước uống, ngày 2-3 lần hoặc có thể dùng rễ đỗ quyên 30-60g, sắc uống cùng với chút rượu vang.

7. Chứng đau bụng hậu sản: rễ đỗ quyên tươi 30-60g, sắc uống chia 3-4 lần/ngày.

8. Chữa rối loạn kinh nguyệt: rễ đỗ quyên 15g, rễ bạc hà 15g, ích mẫu thảo 15g, hoa hồng 9g. Sắc uống.

9. Đau bụng kinh, đau lưng: rễ đỗ quyên  30g, rễ hải kim sa 30g, ô dược 15g. Sắc uống trước kỳ kinh 1-2 tháng.

10. Nấm tóc: Hoa Đỗ quyên 60g, Hoa trẩu 30g. Hai vị phơi khô tán bột, trộn với dầu trẩu rồi bôi lên da đầu (nếu cạo hết tóc rồi bôi thì càng tốt).
11. Viêm loét dạ dày: Rễ Đỗ quyên 12g, Cành lá mộc hương tươi 15g, Quất bì 12g, sắc uống.
12. Ung nhọt và viêm loét phần mềm: Cành hoặc Lá non Đỗ quyên giã nát đắp lên tổn thương.
13. Thương tổn do trật đả: Nếu đau nhức nhiều dùng hạt Đỗ quyên 1,5g tán vụn, uống với một chút rượu. Nếu có xuất huyết, dùng Lá Đỗ quyên tươi giã đắp hoặc lá Đỗ quyên khô, tán bột rắc vào vết thương để cầm máu. Nếu bầm giập sưng tấy nhiều, dùng lá Đỗ quyên tươi, Nghệ vàng với lượng vừa đủ, giã nát, chế thêm một chút rượu rồi bó vào nơi tổn thương và kết hợp uống nước sắc của 20-30g rễ Đỗ quyên.
14. Viêm khí phế quản mạn tính: Lá đỗ quyên khô tán bột, chế với cồn theo tỷ lệ 1/1, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20 ml. Hoặc: Lá đỗ quyên 30 g, diếp cá 24 g, lá nhót 15 g sắc uống.
15. Nôn ra máu, chảy máu mũi Hoa đỗ quyên tươi 15 g sắc uống. Hoặc: Rễ đỗ quyên khô 15 g sắc uống.

* Cách trồng và chăm sóc cây đỗ quyên:

– Kỹ thuật làm đất:

  • Đất trồng hoa đỗ quyên phải đảm bảo đủ các yếu tố sau: Đất tơi xốp, thoát nước, thông thoáng gió, nhiều mùn, đủ phân bón. Độ pH khoảng từ 4 – 5 là phù hợp nhất.
  • Cách pha trộn đất trồng hoa đỗ quyên: Lấy 2 phần đất mặt trên núi phong hoá + 1 phần lá rụng + 1 phần phân động vật ăn cỏ, trộn ủ 1 năm. Ngoài ra cũng có thể trộn theo công thức: 3 phần đất tầng mặt + 3 phần phân ngựa + 3 phần lá mục + 1 phần nước giải, trộn đều, phân thành lớp, ủ trong 1 – 2 năm. Chú ý, phải để phân ủ trong nhà có mái che để giảm độ phì do nắng mưa, trước khi dùng thì phải loại bỏ tạp chất.

– Kỹ thuật chăm sóc:

  • Kỹ thuật thay chậu: Thay chậu với hoa đỗ quyên là việc làm cần thiết. Cây hoa đỗ quyên cần được thay chậu trong các trường hợp sau: Chuyển cây từ ngoài đất vào chậu. Thứ hai là cây con lớn, bộ rễ đầy chậu đáy chậu có rễ ra ngoài. Cũng cần phải thay chậu sau khi trồng cây 2-3 năm, dinh dưỡng trong chậu đã hết. Có thể tiến hành thay chậu vào vụ xuân hoặc vụ thu (trước khi hoa đã tàn hoặc trước khi cây vào nụ). Khi thay chậu người chăm sóc nên chọn loại chậu có chất liệu và kích thước phù hợp với tuổi cây. Khi thay chậu chú ý bỏ hết đất cũ, cắt bỏ rễ xấu. Sau khi thay chậu cần tưới đẫm nước, nếu thay vào vụ thì cần chú ý giữ ẩm cho cây trong vụ đông.
  • Kỹ thuật tưới nước: Cây đỗ quyên có bộ rễ rất mạnh nên nó rất sợ hạn và không chịu ngập úng lâu. Nếu hạn hoặc úng quá đều khiến cây sinh trưởng, phát triển kém, lá vàng, hoa rủ. Chính vì vậy, cần căn cứ vào điều kiện thời tiết để có chế độ tưới cho phù hợp. Thời gian tưới tốt nhất là vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Vào thời kỳ cây sinh trưởng, ra nụ, hoa cần tưới nước nhiều hơn. Trong những ngày trời hanh khô cần phun nước nhiều xung quanh lá, hoa, chậu và mặt đất để tăng độ ẩm không khí.
  • Nước dùng tưới cho đỗ quyên tốt nhất là nước tự nhiên, rồi nước sông, ao hồ và cuối cùng là nước máy. Để tăng độ chua cho nước tưới ta có thể cho thêm sunfat sắt hoặc cho thêm dấm ăn.
  • Kỹ thuật bón phân: Đỗ quyên không phải loại cây phàm ăn, vì vậy cần chú ý khi bón phân. Nếu bón nhiều phân, bón phân quá đặc còn ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Để hoa to và đẹp thì cần bón một lượng phân phù hợp, cách bón phân hợp lý mà theo kinh nghiệm của nhà vườn là: Phân khô bón ít, phân nước pha loãng. Thông thường chỉ bón phân với các cây từ hai năm tuổi trở lên. Đối với cây 2-3 năm tuổi thì chỉ bón từ cuối xuân đầu hè, cứ 10-15 ngày bón một lần phân loãng. Đối với cây từ 4 năm trở lên, mỗi năm bón 2 lần phân khô vào mùa xuân và mùa thu, giữa tháng 6 thì bón một lần phân P, K. Sau tháng 6 thì ngừng bón phân, đến khi tàn, cây mọc cành mới có thể bón nước phân loãng.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Mạch môn đông là một loài cỏ mọc hoang, được sử dụng rất nhiều làm dược liệu để chữa nhiều bệnh. Ngoài ra, vì hình thái của cây đẹp nên cũng được sử dụng để trồng trang trí trong sân vườn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-1

– Tên gọi khác: cây mạch môn đông, cây mạch môn, môn đông, củ tóc tiên, lan tiên,…

– Tên khoa học: Ophiopogon Japonicus Ker-Gawl.

– Họ thực vật: Mạch môn đông (Convallariaceae).

* Mô tả:

– Thân thảo, sống nhiều năm, có thân ngắn mang nhiều rễ củ mập. Lá hình dải hẹp, dài 15 – 30 cm, rộng 2 – 4 cm, nhẵn, gốc có bẹ to hình màng, đầu nhọn, 5 – 7 gân lá song song, nổi rất rõ, mặt trên xanh lục sẫm, mặt dưới trắng nhạt.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-3

Hoa mạch môn đông.

– Cụm hoa là một chùm dài 10 – 20 cm, cuống có cạnh; hoa màu lục nhạt hoặc lơ sáng; lá bắc không màu hoặc trắng nhạt; bao hoa gồm 6 phiến thuôn; nhị 6, chỉ nhị rất ngắn, bao phấn hình mác.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-2

Quả mạch môn đông.

– Quả mọng, màu tím, đường kính 6mm, chứa 1 – 2 hạt. Mùa hoa quả: tháng 8 – 10.

* Thành phần hóa học:

– Từ rễ của mạch môn, 5 glucosid đã được phân lập. Ba chất đầu khi thuỷ phân thu được diosgenin, ở chất thứ 4, genin là ruscogenin, còn chất thứ 5 cho choophiogenin. Ngoài ra, còn có 11 chất thuộc các nhóm chất sau: Các stigmasterol, b – sitosterol, b – D – glucosid, các hợp chất polysacharid, tinh dầu và các thành phần như b – patchoulen, longifolen, cyperen, a – humulen, guajol, jasmolelon cũng được phát hiện trong cả mạch môn. Gần đây, còn phân lập được các saponin steroid là ophiopogonin A, B, C, D. Ophiopogonin A, B và D khi thuỷ phân cho genin là ruscogenin.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-6

Cây mạch môn đông trồng bồn, trồng bụi,…

– Cây mạch môn đông có lá, hoa và quả đẹp, có thể trồng thành bồn hoa, phối kết với các loài cây bụi khác trong tiểu cảnh, trồng trong chậu để trang trí,…

* Công dụng trong y học:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-4

Rễ và củ của cây mạch môn đông.

– Theo tài liệu, mạch môn có vị ngọt, hơi đắng tính hơi hàn, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, dưỡng vị sinh tân, hóa đờm, chỉ ho, dùng chữa hư lao, ho, thổ huyết, ho ra máu, miệng khô khát, bệnh nhiệt tân dịch khô. Những người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không dùng được.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-5

Củ của cây mạch môn đông đã làm sạch và sấy khô.

– Bộ phận dùng:  Đoạn rễ phình lên gọi là củ Mạch môn (Radix ophiopogoni) Thu hoạch sau khi trồng 2 – 3 năm lấy củ già có màu hồng (bỏ củ non và đoạn rẽ) rửa  sạch và phơi sấy khô. Khi dùng bỏ lõi.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận cây mạch môn đông:

1. Chữa âm hư, sốt cao, suyễn khát, trên nóng dưới lạnh (toàn chân nhất khí thang): Mạch môn 12g, thục địa 32g, ngũ vị 32g, nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phụ tử chế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

2. Chữa nhiệt thương tổn đến nguyên khí, đoản hơi, khát, phế hư mà ho (Sinh mạch tán): Mạch môn, nhân sâm 2 g; ngũ vị 7 hạt. Sắc uống ngày 1 thang.

3. Chữa cảm nắng thấp nhiệt nhức đầu, mình nóng ra mồ hôi, phiền khát, đái vàng, tức ngực, mình mẩy đau nhức nặng nề, lười ăn, tinh thần mỏi mệt, mạch hư (Thanh thử ích khí thang): Mạch môn 1,2g, hoàng kỳ 6g, thương truật 6g, thăng ma 4g, nhân sâm 2g, bạch truật 2g, trần bì 2g, trạch tả 2g, thần khúc 2g, đương quy 1,2g, cát căn 1,2g, hoàng bá 1,2g, cam thảo 1,2g thanh bì 0,8g, ngũ vị 9 hạt. Sắc uống ngày 1 thang.

4. Chữa nôn khan không dứt (Thanh kim dao khí phương): Mạch môn (sao gạo) 8g, xa tiền (sao qua) 6g, trạch tả (sao muối) 6g, ngưu tất (dùng sống) 4g, nhục quế (kỵ lửa) 4g, xích phục linh 4g, trầm hương (mài vào thuốc) 2 g, ngũ vị 1,6g, gừng sống 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Chữa ăn uống không tiêu (Thông quan giao thác thang): Mạch môn 4g, thục địa 12g, sơn dược 7g (đều tẩm trầm hương), sơn thù 4g, đơn bì 3,6g, ngưu tất 2,4g, trạch tả 2,4g, phục linh 2g, nhục quế 1,2g, phụ tử chế 1,2g. Sắc uống ngày 1 thang.

6. Chữa chứng thực nhiệt, phát cuồng, tinh thần hỗn loạn, khát nước nhiều (Khử nhiệt định cuồng phong): Mạch môn, thạch cao, huyền sâm 80g; phục thần 40g; xa tiền 20g; tri mẫu, sa sâm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

7. Chữa ra mồ hôi nhiều, toàn thân nóng, phiền khát, mê sảng (Cứu âm tiết dương thang): Mạch môn 8g; thục địa 16g; mẫu đơn, đơn sâm, ngưu tất, phục linh 6g; bạch thược 4g; khương thán 1,6g. Sắc uống ngày 1 thang.

8. Chữa kinh sợ, hồi hộp hay quên, ra mồ hôi trộm, kém ăn, ít ngủ, mỏi mệt, phụ nữ kinh trệ, rong kinh (Xuân dục phương): Mạch môn 6g, thục địa 12g, bạch truật 8g, phục linh 8g, ngưu tất 6g, ô dược 4g, phụ tử 4g, ngũ vị 9 hạt. Gia nước gừng sống một ít. Sắc uống ngày 1 thang.

9. Chữa chứng tinh huyết suy kiệt, trong ngực nôn nao, đau từ trên xuống dưới, khô khát, táo kết, gầy sạm (Tư thuỷ nhuận táo phương): Mạch môn 24g, thục địa 80g, thiên môn 24g, phụ tử chế 8g, ngũ vị 20 hạt, sữa người một bát to. Sắc uống ngày 1 thang.

10. Chữa ho, viêm họng: Mạch môn 10g, bách bộ (bỏ lõi sao vàng) 10g, vỏ rễ dâu (cạo vỏ vàng) 10g, vỏ quýt 5g, xạ can 5g, cam thảo dây 5g. Dạng thuốc phiến ngậm, ngày ngậm 4 – 5 lần, mỗi lần 1 phiến (mỗi phiến tương đương 3g), hoặc dạng cao loãng, mỗi lần 1 thìa cà phê.

11. Chữa trẻ em viêm phế quản, viêm họng: Mạch môn 24g, huyền sâm 12g, thiên môn 12g. Sắc uống.

12. Chữa tắc tia sữa: Mạch môn bỏ lõi tán nhỏ. Mỗi lần uống 10 – 12g. Lấy sừng tê giác mài với rượu uống độ 4g làm thang. Uống 2 – 3 lần.

13. Chữa miệng lưỡi lở loét, viêm da ngứa gãi, táo bón, lòi dom, đại tiện ra máu: Mạch môn 20g, huyền sâm 12g, thuốc bỏng 12g, công cộng 6g. Sắc uống hoặc ngậm rồi nuốt dần.

14. Thang tư âm (bổ thuỷ) dùng cho các trường hợp có sốt: Mạch môn, sinh địa, huyền sâm, hạt muồng sao, ngưu tất, tri mẫu, hoàng bá, đan sâm, đơn bì, xích thược, cỏ nhọ nồi, trắc bá sao, huyết dụ, mỗi vị 10 – 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

15. Chữa bệnh tim cùng với bệnh thận: Mạch môn 93g, sinh địa 248g, sơn thù du 124g, sơn dược 124g, mẫu đơn bì 93g, phục linh 93g, trạch tả 93g, ngũ vị tử 62g. Tán thành bột, làm thành viên hoàn, mỗi viên 2,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần.

16. Chữa xơ vữa động mạch, co thắt mạch vành kèm theo loạn nhịp, khó thở, đánh trống ngực: Mạch môn 15,5g, thiên môn 12,5g, sa sâm 9g, đan sâm 9g, ngũ vị tử 6g, viễn chí 6g, cam thảo 3g. Sắc với 600ml nước còn 200ml, chia uống 2 lần trong ngày, uống trong thời gian 1 – 2 tháng.

17. Chữa giai đoạn đầu của lao phổi, hen phế quản, ho gà, viêm phế quản: Mạch môn 18g, bán hạ 9g, thóc tẻ 4,5g, táo 3g, nhân sâm 2g, cam thảo 2g. Sắc với 600ml nước, còn 300ml, chia làm 3 lần trong ngày, uống lúc còn nóng.

18. Chữa suy nhược cơ thể do phế âm hư: Mạch môn 12g, sa sâm 20g, hoài sơn 16; thiên môn, thục địa, mỗi vị 12g; mạch nha, quy bản, tang bạch bì, mỗi vị 10g; trần bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

19. Chữa viêm phế quản cấp tính (Thanh táo cứu phế thang): Mạch môn 12g; đảng sâm 16g; tang diệp, thạch cao, tỳ bà diệp, mỗi vị 12g; hạnh nhân, a giao, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

20. Chữa lao phổi: Mạch môn 12g; đảng sâm hoài sơn, bạch truật, mỗi vị 16g; ý dĩ, thiên môn, quy bản, mỗi vị 12g; a giao 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

21. Chữa nhồi máu cơ tim: Mạch môn, nhân sâm, ngũ vị tử, mỗi vị 12g; cam thảo 6g. Sắc uống.

Chú ý: Người bị hư hàn, ăn uống chậm tiêu, đi lỏng không dùng.

* Cách trồng và chăm sóc cây mạch môn đông:

– Có thể trồng quanh năm. Để tiện nguồn giống, nên trồng vào lúc thu hoạch củ.

– Sau khi thu hoạch củ, tách từng gốc riêng rẽ, cắt bớt rễ, lá để làm giống.

– Cây nọ cách cây kia là 20 cm.

– Mạch môn là cây ưa ẩm, ưa ánh sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng, có thể phát triển trên mọi loại đất, trừ nơi úng ngập .

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

Ảnh hồ sơ của Như Phượng

Giới thiệu:
– Quả cà ri màu đỏ độc lạ từng xuất hiện ở nhiều lễ hội trái cây Nam Bộ còn được gọi là quả điều nhuộm, quả điều màu. Quả không ăn được nhưng hạt lại có rất nhiều công dụng. Hạt cà ri được dùng để tạo màu thực phẩm, chẳng hạn như bơ, cá và dầu ăn.
– Hạt là nguồn sản xuất một loại chất tạo màu và hương vị gốc carotenoit cho thực phẩm, có màu vàng hoặc màu cam. Hương thơm của nó được mô tả “cay nhẹ với hương nhục đậu khấu thoang thoảng” còn vị thì “hơi giống hạt phỉ, ngọt và cay”.
– Tên khoa học: Bixa orellana
– Họ: Điều nhuộm – Bixaceae
– Tên khác: điều màu, cà ri.

qua-dieu-nhuom-01

Mô tả:
Điều nhuộm là cây nhiệt đới, xanh lá quanh năm, có thể sống tới 50 năm.
-Thân: Cây gổ nhỏ, cao 4-5 m, có thể đến 10 m, có nhiều cành.
-Lá: Lá đơn mềm, nhẵn, hình ba cạnh, đầu nhọn, hình tim ở gốc, nhọn ở chóp, dài 12cm, rộng 7cm hoặc hơn; cuống phình ở đỉnh, dài 3-4 cm.
-Hoa: Hoa tương đối lớn, có màu tía hay trắng, mọc thành chùy ngắn ở đầu cành ngọn hay các nhánh.
-Quả: Quả nang màu đỏ tím, bao bọc bởi gai cứng, mọc thành chùm, hình tim, mở bằng hai van, mỗi mảnh nang chứa nhiều hạt.
-Hạt: Trong mỗi quả có khoảng 50 hạt. Hạt hơi có dạng lập phương trên một cuống ngắn, cuống hạt phồng lên thành một cái áo, xung quanh hạt có lớp lổn nhổn màu đỏ.

qua-dieu-nhuom-02

Thành phần hóa học:
– Vỏ quả chứa tinh dầu 0,05%, nhựa 1-1,65%, tamin, cellulose. Trong cơm quả có chất dễ bay hơi 20-28%, oclean 4,0-5,5%, sucrose 3,5-5,2%, saponin, palmitin, phytosterol, vitamin A. Hạt chứa bixin, dầu có bixola, Bixin là một chất có tinh thể màu đỏ tươi. Nó là một carotinoid và là thành phần của chất nhuộm màu đỏ. Ngoài ra còn có carotin và nhiều carotinoid màu vàng. Trong cơm của hạt, còn có chất orelin màu vàng, không có tinh thể.

qua-dieu-nhuom-03

Công dụng:
a-Hạt cây điều nhuộm dùng để lấy chất tạo màu:
– Các sắc tố được chiết xuất đơn giản bằng cách giả nhỏ hạt ngâm trong dung môi như giấm, rượu hay để nguyên hạt chiên trong dầu sôi. Dung dịch màu đỏ dược tẩm vào thức ăn như một loại bơ thực vật, là chất tạo màu tự nhiên không độc hại.

qua-dieu-nhuom-04
– Chất màu hạt điều nhuộm được dùng trong các món nấu nướng với thịt, bột làm bánh và nước giải khát.
– Phẩm màu chiết xuất từ cây điều nhuộm được tẩm vào pho mát, cá, dầu xà lách, bơ, bắp rang, nước uống, và bánh mì.
– Dùng màu hạt điều nhuộm để nấu món cà ri có màu đỏ đậm, thay cho bột nghệ hay hòa chung bột nghệ để cà ri có màu đậm hơn.
– Hạt cây điều nhuộm được các bà nội trợ khử trong dầu phọng, dầu dừa hay mỡ heo đun nóng, lọc lấy hổn hợp màu để nấu thức ăn như cà ri, cơm nị, xào lăn, hon với thịt…

qua-dieu-nhuom-05
b-Hạt cây điều nhuộm dùng trong công nghiệp chiết rút chất màu thực phẩm:
– Chất màu trong hạt cây điều nhuộm có giá trị thương mại đặc biệt tại Hoa Kỳ bởi vì Cục Quản lý Thực phẩm và Dược xem xét chất màu trong hạt điều nhuộm là chất màu an toàn.
– Sắc tố trong hạt cây điều nhuộm có màu đỏ đậm dùng trong công nghiệp thực phẩm rẻ hơn nhiều so với các sắc tố beta corotene chiết xuất từ các thực vật khác.

qua-dieu-nhuom-06
– Nhiều công ty thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm ở một số nước như Hoa Kỳ, Brazil đang có công nghệ chiết rút sắc tố Bixin. Do đó có nhiều trang trại chuyên canh cây điều nhuộm nên loài cây này đang trở thành cây công nghiệp cung cấp chất màu thực phẩm, mỹ phẩm và dược liệu.
c-Hạt của cây điều nhuộm dùng làm nước trà:
– Hạt cây điều nhuộm phơi khô, bảo quản lâu dài và rang sơ dùng để nấu nước uống như nước trà hàng ngày, loại nước này có vị thơm, màu vàng dậm, uống không bị mất ngủ như trà.

qua-dieu-nhuom-07
d-Các bộ phận của cây điều nhuộm dùng làm thuốc:
– Dùng làm thuốc săn da và xổ nhẹ.
– Dùng làm thuốc hạ nhiệt, thường dùng chữa sốt phát ban, sốt rét và các chứng sốt khác.
– Làm thuốc tẩy giun, chữa lỵ.
– Lá cây điều nhuộm được sử dụng để điều trị chứng ợ nóng và đau dạ dày do thức ăn cay gây ra, và như là một chất lợi tiểu. Nó cũng được dùng để trị bệnh sốt và sốt rét, lá đâm nhuyễn đắp ngoài để điều trị bỏng.
– Dùng nhiều bộ phận cây điều nhộm là thuốc như: chửa sốt, bệnh lỵ, lá sắc uống để ngăn chặn nôn và buồn nôn. Hạt đun trong nước sôi lấy nước uống để trị viêm xoang, hen suyễn, táo bón và rối loạn da và viêm tử cung (uteritis).
– Hạt cây điều nhuộm giả nát để trị rắn cắn, tiêu đờm. Rễ nấu dùng để trị ho bệnh đường ruột.
– Tác dụng điều trị các rối loạn tuyến tiền liệt và viêm nội bộ, tăng huyết áp động mạch, cholesterol cao, béo phì, viêm bàng quang, suy thận, và để loại bỏ acid uric. Nước sắc này cũng được khuyến cáo như là một chất khử trùng âm đạo, rửa trị nhiễm trùng da, rối loạn gan và dạ dày.
d-Các công dụng khác của cây điều nhuộm:
-Hạt cây điều nhuộm được dùng làm son môi: Dùng nước ép từ hạt cây điều nhuộm để vẽ hoa văn trên cơ thể (nam giới). Phụ nữ dùng làm chất son bôi môi để làm đẹp.

qua-dieu-nhuom-08
-Hạt cây điều nhuộm được dùng làm thuốc nhuộm tóc: Dung dịch ép từ hạt cây điều nhuộm để nhuộm tóc đỏ. Từ cách dùng này người Tây Ban Nha khai thác hạt của cây điều nhuộm để sản xuất ra loại thuốc nhuộm tóc đỏ với thương hiệu theo tiếng Tây Ban Nha là thuốc nhuộm Colorados.
-Hạt cây điều nhuộm được dùng làm phẩm màu trong công nghiệp: Hạt cây điều nhuộm cũng được sử dụng như là một loại thuốc nhuộm tự nhiên cho vải và len và đôi khi được sử dụng trong sơn, dầu bóng, sơn mài, mỹ phẩm, xà phòng và các ngành công nghiệp.

Như Phượng
(Nguồn: Internet)

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Cây huyết dụ là một loài cây dược liệu quý, có một số công dụng rất tuyệt vời trong y học, được ứng dụng và lưu truyền từ rất lâu đời. Ngoài ra, đây còn là một loài cây có lá màu đẹp, được trồng làm cảnh ở nhiều nơi.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-1

– Tên thường gọi: huyết dụng, huyết dụ lá đỏ, phát dụ, long huyết, thiết dụ, phất dụ,…

– Tên khoa học: Cordyline terminalis.

– Họ thực vật:  Liliaceae (họ hành).

* Mô tả:

– Cây huyết dụ là cây bụi thường xanh với một thân cây nhiều đốt sẹo như họ cau dừa. Cây huyết dụ không phân nhánh nhiều và có thể cao đến 3 m. Lá cây huyết dụ mọc tập trung ở ngọn, xếp thành 2 dãy. Lá cây huyết dụ hình lưỡi kiếm, cuống dài có bẹ và rãnh ở mặt trên. Lá dài 30 – 50 cm, rộng 10 – 15 cm, gốc thắt lại, đầu thuôn nhọn, mép nguyên lượn sóng và có thể có màu xanh, đỏ tía hoặc có sự kết hợp giữa các màu khác nhau như màu tím, đỏ, vàng, trắng.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-3

Quả của cây huyết dụ.

– Cụm hoa huyết dụ mọc ở ngọn thân thành chùm xim hoặc chùy phân nhánh, dài 30 –  40 cm, mỗi nhánh mang rất nhiều hoa màu trắng, mặt ngoài màu tía kích thước 1.25 cm; lá đài 3, thuôn nhọn, cánh hoa 3, hơi thắt lại ở giữa; nhị 6, thò ra ngoài tràng; bầu có 3 ô. Quả huyết dụ là quả mọng hình cầu. Mùa hoa quả của cây huyết dụ từ tháng 12 – 1.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-5

Hoa của cây huyết dụ.

* Thành phần hóa học:

– Lá huyết dụ có phenol, acid amin, đường, anthocyan.

* Công dụng trong cảnh quan:

– Cây huyết dụ từ lâu đã được ứng dụng rộng rãi trong cảnh quan. Cây sống lâu năm, có màu lá đỏ tím rất đẹp và đặc trưng.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-2

Cây huyết dụ được trồng thành bụi trong sân vườn.

– Cây được sử dụng để trồng bụi trong sân vườn, trồng thành hàng dọc đường đi, trồng kèm với kiểu cảnh, trồng trong chậu, trồng ở những nơi công cộng như dải phân cách, cơ quan, trường học, công viên,…

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-4

Cây huyết dụ trồng trong dải phân cách.

– Cây cũng được sử dụng để làm cây nội thất, mang tới không gian màu sắc và trong lành cho không gian trong nhà.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-huyet-du-6

Cây huyết dụ trang trí trong phòng ngủ.

* Công dụng trong y học:

– Theo đông y, huyết dụ vị nhạt, tính mát, tác dụng làm mát máu, bổ huyết, cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương trị rong kinh, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.

– Có hai loại cây huyết dụ, loại lá đỏ cả hai mặt và loại lá đỏ một mặt còn mặt kia màu xanh. Cả hai loại đều được dùng làm thuốc, nhưng loại hai mặt đỏ tốt hơn.

– Bộ phận dùng: hoa, lá và rễ.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây huyết dụ:

1. Chữa chứng sốt xuất huyết (kể cả các xuất huyết dưới da): Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

2. Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

3. Chữa ho ra máu: Lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bách diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

4. Chữa các loại chảy máu (kể cả xuất huyết tử cung, tiêu chảy ra máu): Lá huyết dụ tươi 40 – 50g (nếu sử dụng lá khô, hoa khô lượng chỉ bằng nửa lá tươi), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót rau.

5. Chữa bạch đới, khí hư, lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

6. Chữa vết thương hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

7. Chữa rong kinh, băng huyết: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày. Hoặc lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

8. Chữa đi tiểu ra máu: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cây rang 10g, lá lẩu 10g, lá cây muối 10g, lá tiết dê 10g. Tất cả rửa sạch để ráo nước, giã nát vắt lấy nước cốt uống.

9. Chữa kiết lỵ: Lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.

10. Chữa trĩ : Lấy 20 gam lá huyết dụ tươi rửa sạch. Đổ 200 ml nước vào sắc còn 100 ml, chia uống trong ngày. Chữa trĩ nội: Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

* Cách trồng và chăm sóc cây huyết dụ:

– Cây huyết dụ có thể nhân giống bằng cách giâm cành. Cắt một phần 7 – 12 cm của thân cây trưởng thành, loại bỏ các lá và giâm vào đất. Các mắt trên cành sẽ phát triển thành chồi lá.

Một số lưu ý khi chăm sóc cây huyết dụ để cây phát triển đều đặn:

– Đất trồng: Cây huyết dụ thích hợp với  đất trồng tơi xốp, thoáng khí, thoát nước tốt, giữ ẩm tốt. Bạn nên bón thêm một ít phân bón hữu cơ để giúp cây sinh trưởng phát triển tốt. Đặc biệt chú ý thiếu đến loại phân bón như Mg và K, thiếu loại này cây sẽ còi cọc, cháy lá và dễ bị chết. Không nên bón phân cho đất trồng vào mùa đông.

– Ánh sáng: Cây huyết dụ thích hợp với độ chiếu sáng trung bình và cao từ 50-90%. Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến lá của cây, nên đặc biệt chú ý. Cây cần tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp.

– Nhiệt độ: Cây huyết dụ sinh trưởng và phát triển tốt ỏ khoảng 15-27oC, nhiệt độ thấp nhất mà huyết dụ còn có thể chịu đựng là 4oC. Tùy thuộc vào nhiệt độ của khu vực của bạn, mà bố trí vị trí trồng cây cho phù hợp.

– Chế độ nước: Cây huyết dụ có nhu cầu nước trung bình. Tưới nước để giữ độ ẩm cho đất trồng, giúp cây hút được nước. Chính vì huyết dụ chịu hạn kém nên cần tưới nước ngay khi thấy đất khô. Khi thiếu nước, lá cây sẽ héo khô và chuyển sang màu nâu. Không nên để cây rơi vào tình trạng này.

– Sâu bệnh hại cây: Cây huyết dụ rất dễ mắc bệnh trĩ. nên dùng thuốt bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu hại, sau đó, cạo bỏ phần thân cây bị hoại tử, rửa vết thương bằng xà phòng và nước sạch để trị bệnh cho cây.

– Chăm sóc tán cây: Cây huyết dụ theo thời gian cũng sẽ tàn nhánh lá, cần quan sát kĩ các nhánh lá, loại bỏ ngay các phần tử bị hư để tránh ảnh hưởng đến các nhánh cây khác.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

 

 

 

 

 

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Hoa mào gà đỏ là một loài cây rất phổ biến ở nước ta, màu hoa rực rỡ và lâu tàn nên được sử dụng rất nhiều trong trang trí cảnh quan. Trong y học, hoa mào gà đỏ là một vị thuốc quý, có nhiều công dụng tuyệt vời mà có thể bạn chưa biết.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-1

– Tên thường gọi: cây hoa mào gà, mồng gà, kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa,…

– Tên khoa học: Celosia cristata L.

– Họ thực vật: Họ dền – Amaranthaceae.

* Mô tả:

– Hoa mào gà thuộc họ rau dền, cây thảo cao tới 60 – 90 cm, có thân thẳng đứng và phân nhánh, nhẵn. Lá có phiến hình trái xoan, có khi hình ngọn giáo nhọn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-3

Lá của cây hoa mào gà đỏ.

– Hoa đỏ (và có nhiều màu khác nữa), có cuống rất ngắn, thành bông hầu như không cuống, thành khối dày, trông như cái mào gà. Quả hình trái xoan, gần như hình cầu, chứa 1 – 9 hạt đen bóng. Cây ra hoa vào mùa hè, quả vào tháng 9 – 11.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-2

Hoa của cây mào gà đỏ.

* Thành phần hóa học:

– Trong hoa mào gà còn có các chất dinh dưỡng và hoạt chất như chất đạm, chất béo, các axit folic, pantothenic, các vitamin B1, B2, B4,B12, C, D, E, K..nó có chứa 12 nguyên tố vi lượng, 50 loại men thiên nhiên, đặc biệt hàm lượng chất đạm (protein) lên đến 73% .

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-4

Cây mào gà đỏ trồng thành bồn hoa.

– Cây hoa mào đỏ nói riêng và các loài mào gà nói chung gà được sử dụng rất nhiều trong trang trí cảnh quan. Màu hoa đa dạng từ trắng, vàng, hồng , đỏ và màu sắc rất tươi tắn, rực rỡ. Hoa nở lâu tàn và cây dễ trồng, dễ chăm sóc là những điểm mạnh của loài cây này.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-5

Cây mào gà đỏ trồng trong chậu.

– Có thể trồng hoa mào gà trong bồn cây, trồng thành mảng, trồng trong chậu, trồng phối hợp với các tiểu cảnh,… đều rất tuyệt vời.

* Công dụng trong y học:

– Theo Đông y thì  hoa mào gà có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, dùng chữa trĩ lậu,hạ huyết, thổ huyết, huyết lân, phụ nữ băng trung, xích bạch đới hạ, tiện huyết, niệu huyết. Cành và lá có tính năng và tác dụng tương tự như hoa cũng thường được dùng để cầm máu và chữa trị các chứng viêm loét.

– Bộ phận dùng: sử dụng chủ yếu là hoa của cây mào gà.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây hoa mào gà:

1. Chữa kinh nguyệt không điều hòa: bạn dùng cả cây hoa mào gà màu đỏ đã phơi khô 30 g,sau đó tán thành bột mịn, lúc đói bụng thì hòa bột mào gà đó với rượu để uống.

2. Chữa tử cung xuất huyết cơ năng: hoa mào gà 15 g, mai mực 12 g, đậu ván trắng 12 g, sắc  lên lấy nước uống hằng ngày sẽ rất tốt.

3. Chữa da nổi mề đay: dùng cả cây hoa mào gà nấu nước, uống nước này ngày 3-4 bát và kết hợp rửa ngoài chỗ da bị nổi mề đay.

4. Chữa rết cắn: giã nát cây hoa mào gà rồi đắp vào vết thương.

5. Chữa thổ huyết, khạc huyết, chảy máu cam:

– Hoa mào gà tẩm với giấm, đun sôi, rồi phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, mỗi lần uống 6 g, chiêu bằng rượu ấm.

– Hoa mào gà tươi 15-20 g, sắc lấy nước, rồi hầm với phổi lợn, ăn sau các bữa ăn.

6. Chữa dạ dày, ruột chảy máu, tử cung xuất huyết, đi ngoài ra máu, kinh nguyệt dài ngày: phơi khô hoa mào gà khoảng 10g, tán nhỏ, chia uống nhiều lần trong ngày, mỗi lần 1-2 g.

7. Chữa kiết lỵ: Hoa mào gà đỏ 15-20 g, sắc với nước uống. Nếu phân có lẫn máu thì cho thêm đường đỏ vào nước sắc hoa mào gà để uống.

8. Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9 g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, bạch truật 9 g, bạch linh 9 g, bông mã đề tươi 30 g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

9. Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn 10 g, sắc nửa rượu nửa nước uống.

10. Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24 g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, phòng phong 6 g, tông lư thán 10 g, sắc uống. Hoặc: Kê quan hoa và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 g.

11. Chữa bệnh trĩ bằng hoa mào gà:

– Đối với bệnh nhân bị đại tiện ra máu thì nên dùng hoa mào gà sao cho cháy lên rồi tán thành bột dùng để uống mỗi lần từ 6 – 9g, mỗi ngày uống 2 – 3 lần, hoặc hoa mào gà trắng 15g, Phòng phong 6g, Tông lư thán 10g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà 30g, Ngải diệp 30g sao đen, sắc uống.

– Người bị trĩ lở loét dùng hoa mào gà 3g, Ngũ bội tử 3g, một chút Băng phiến, tất cả bạn hãy tán thành bột rồi sau đó trộn bột đó với mật lợn dùng để bôi lên vùng loét.

– Việc chữa bệnh nên kết hợp với chế độ ăn uống kiêng khem thì sẽ có hiệu quả tốt hơn cho bệnh nhân mắc bệnh trĩ.

* Cách trồng và chăm sóc cây hoa mào gà đỏ:

– Nhân giống loài cây này thường dùng phương pháp gieo hạt. Trước đó 1 năm chọn bông hoa to, đẹp lấy hạt trong lông nhung, hong khô cất trữ, đến tháng 4-5 bắt đầu gieo. Thời gian gieo hạt nên chọn lúc nhiệt độ 20-25độ C. Trước khi gieo hạt cần phun một lần nước và bón một ít phân lên luống, sau 1-2 ngày.

– Sau khi gieo phủ lên một lớp đất mìn mỏng 2-3mm, rồi phủ chiếu hoặc cỏ che nắng; trong 2 tuần không tưới nước để tránh trọi cây con. Nếu đất quá khô có thể dùng vòi phun phun lên một ít nước, sau 1 tuần hạt nảy mẩm, bỏ hết vật che phủ, chờ khi cây mọc được 3 lá thật tiến hành tỉa thưa (nhổ cây con để cự ly 3-4cm), khi cây có 6cm tiến hành chuyển cây cấy, vào tháng 6 thì cây ổn định.

– Cây giống đưa vào trồng khi được 4 – 5 lá, chiều cao trung bình 6 – 7cm. Chọn những cây thân mập, không bị sâu lá, éo úa. Chọn cây lá to vừa phải, không to quá.

– Mào gà sinh trưởng trong môi trường không khí khô, đủ ánh sáng, đất cát, nhiều mùn. Tùy theo mục đích trồng trong giỏ (chậu) hoặc trồng trực tiếp ra luống mà chuẩn bị đất khác nhau. Do đặc điểm của bộ rễ hoa mào gà phát triển mạnh và ăn ngang nên chân đất thích hợp cho hoa mào gà là đất thịt nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dày và pH từ 6 – 6.5.Chuẩn bị đất: Đất thịt pha cát, phân chuồng hoai, tro trấu, xơ dừa theo tỉ lệ 2:1:2:1/2. Mỗi giỏ (chậu) cho vào 0,7 kg hỗn hợp.

– Nên bấm đọt vào giai đoạn cây cao 30, 40 cm để cây không vượt quá mức và giúp các chồi nách phát triển để tạo bông sau này sẽ đều mặt và đẹp, chỉ nên chừa 5 – 6 cặp chồi nách sẽ tốt hơn. Mào gà là loại cây dễ trồng. Muốn có hoa to, phải tỉa bớt tất cả các mầm non mọc ở nách lá và các hoa phụ.Tưới nước: Tưới nước vừa đủ ẩm, tưới quá nhiều nước sẽ ảnh hưởng xấu đến cây.

– Chỉ vun xới khi cây còn nhỏ, khi cây đã lớn thì hạn chế vun xới, nhất là sau khi bấm ngọn trở đi không nên vun xới vì lúc này rễ cây đã ăn ngang nhiều nếu xới sẽ đứt rễ. Tỉa nhánh yếu, mầm già ở gốc để cây không bị ảnh hưởng đến mức sinh trưởng.Tỉa nụ: Mỗi cành phát triển nhiều nụ, khi muốn có hoa to thì tỉa bỏ các nụ và nhánh ở mỗi nách lá, chỉ để lại 1 nụ ở cành chính.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

Ảnh hồ sơ của Như Phượng

Giới thiệu:
Cây oliu là cây bản địa miền duyên hải Địa Trung Hải, đến Iran ven bờ nam biển Caspi. Trái Ô liu là một nông phẩm giá trị ở vùng Địa Trung Hải dùng để làm dầu ô liu. Cây còn được trồng nhiều ở Trung Mỹ, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Úc. Nước ta đã nhập cây Ôliu về trồng nhưng chưa nhân rộng ra được.
Từ nhiều thế kỉ qua, dầu ôliu chiếm được tình cảm của rất nhiều người. Dầu ôliu không những tốt cho sức khoẻ con người, chữa được nhiều bệnh mà tác dụng của dầu ôliu đối với việc làm đẹp được chị em phụ nữ đặc biệt quan tâm, có thể nói dầu ôliu là “thần dược” của phái đẹp.
– Tên khoa học: Olea europaea
– Họ: Ô liu – Oleaceae

OLIU-01

Mô tả:
– Cây cao 10-25m, sống hàng trăm năm, lá mọc đối hình bầu dục, mặt lá bóng, xanh thẫm. Hoa cánh rời, nhỏ, màu trắng xanh, quả mọng hình bầu dục dài, khi chín màu xanh đen.

oliu-02

Thành phần hóa học:
– Trong quả tươi có 25 – 36% dầu, trong quả khô có đến 57% dầu. Quả chín tươi có vị chát, hơi chua và nhạt. Ngoài dầu ra, trong quả tươi còn có 3% protit, 38% gluxit và 8% xellulô. Quả có tính kiềm, có 1000mg% Kali, 1000mg% Natri, 80mg% Ca, 2mg% Magie, 8mg% Sắt. Trong 100g ôliu có 190 đơn vị vitamin A. Muốn có dầu ôliu tốt, phải phơi sấy quả ở nhiệt độ không vượt quá 350C để tránh hoạt động lipaza của enzim oleasa và phải ép dầu ở nhiệt độ lạnh.

Công dụng:
1. Quả oliu dùng làm gia vị:
– Quả oliu sau khi chín được chiết xuất thành dầu oliu, dùng trong nấu ăn hàng ngày, tốt hơn dầu thực vật thông thường. Hay được dùng trộn salad và trong làm bánh.

oliu-03
2. Lá, quả oliu tốt cho sức khỏe:
– Quả ô-liu có chứa axit linoleic rất có lợi cho những trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ. Bà mẹ cho con bú có thể bao gồm trái cây ô-liu trong chế độ ăn uống của mình.

oliu-04
– Clo hiện diện trong trái cây ô-liu có thể cải thiện chức năng gan, cho phép loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể.
– Vitamin A, D, E, và K giúp với sự tăng trưởng của xương ở cả trẻ em và người lớn. Các vitamin này có nhiều trong các loại quả ô-liu.
– Hương vị đặc trưng và hương thơm của ô-liu đến từ polyphenol. Polyphenol có lợi trong việc chống lại ung thư và cũng có tính chất chống viêm tốt.
– Vitamin E và các chất chống oxy hóa trong ô-liu giảm nguy cơ tổn thương tế bào và viêm.
– Dầu ô-liu nguyên chất làm giảm LDL (cholesterol xấu) và tăng HDL (cholesterol tốt).

oliu-05
– Axit oleic là chất béo không bão hòa đơn chính được tìm thấy trong dầu ô-liu có ảnh hưởng và ngăn chặn sự phát triển của khối u, ung thư vú.
– Dầu ô-liu có tính kháng viêm nên có tác dụng tốt trong các bệnh như bệnh suyễn và RA (viêm khớp dạng thấp).
– Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng một hợp chất tự nhiên được tìm thấy trong dầu ô-liu, oleocanthal, có thể hữu ích trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh Alzheimer.
– Lượng dầu ô-liu, chất béo không bão hòa đơn lành mạnh của dầu ô-liu có thể giúp làm giảm mức độ glucose trong máu.
– Nghiên cứu chỉ ra rằng các vi chất dinh dưỡng trong dầu ô-liu đen có lợi trong điều trị loãng xương và ngăn ngừa mất xương, đặc biệt là trong xương đùi.
– Axit maslinic và oleanolic hiện diện trong dầu ô-liu giúp ức chế sự tăng trưởng và phát triển của các tế bào ung thư ruột kết.
– Giảm cảm nóng ran trong thời kỳ mãn kinh.
– Dầu ô-liu có chứa một chất hóa học tự nhiên có thể làm giảm đau.
– Oleuropein, một hoạt chất trong lá cây ô-liu là có lợi trong việc hạ mức huyết áp và làm giãn nở các mạch máu để cải thiện lưu thông máu.
– Flavonoids có trong chiết xuất từ ​​lá ô-liu có đặc tính chống viêm.
– Chiết xuất từ ​​lá ô-liu có khả năng ngăn chặn sự sao chép của vi khuẩn và viruscó hại.
– Lá ô liu có kháng sinh, kháng virus, tính chất diệt khuẩn và kháng nấm. Theo các nghiên cứu nhất định, oleuropein hiện diện trong lá ôliu giúp khống chế các vi khuẩn bằng cách hòa tan lớp ngoài của họ. Nó đã thể hiện thành công trong điều trị cảm lạnh và sốt và ngay cả trong điều trị sốt rét.

oliu-09
– Lá ô-liu có được tìm thấy có hiệu quả chống lại các bệnh hoa liễu chẳng hạn như herpes và bệnh lậu cũng như các bệnh nhiễm trùng răng miệng bởi chúng có thể kháng virus và kháng khuẩn.
– Lá ô-liu có đặc tính chống oxy hóa giúp chống lại các gốc tự do cũng như ngăn chặn thiệt hại cho các mạch máu.
3. Tác dụng của dầu ôliu đối với làm đẹp:
– Tẩy trang: Dầu ô liu cung cấp vitamin E cho da. Chỉ cần thoa một chút dầu ô liu bằng tay hoặc bằng bông tẩy trang, và nhẹ nhàng mát-xa khắp khuôn mặt. Sau đó có thể dùng khăn ướt để lau lại. Có thể dùng dầu ô liu để loại bỏ chất dầu dư thừa ngay cả khi không trang điểm.
– Dưỡng môi: Chiết dầu ôliu vào một chai nhỏ đem theo bên mình (như chai thuốc nhỏ mắt) để thoa bất kì lúc nào các chị cảm thấy môi khô nứt, hoặc thoa lên mỗi tối trước khi ngủ và để qua đêm. Dầu ôliu có tác dụng dưỡng môi rất tốt, giúp môi mềm mại và giảm thiểu tình trạng nếp nhăn xuất hiện ở môi.

oliu-06
– Làm đẹp da:  dầu ôliu bôi lên những vùng da như da cổ, da mặt, chân hay tay…Tinh chất trong dầu ôliu có chứa nhiều chất chống oxy hóa, tăng độ đàn hồi của da làm cho da sáng đẹp hơn.
– Đắp mặt nạ: Lòng đỏ trứng gà, hai muỗng mật ong và 2 muỗng dầu ôliu trộn thật đều và xoa đều nhẹ nhàng lên khuôn mặt và thư giản khoảng chừng 10-20 phút và sau đó xả lại bằng nước ấm, làm 1 tuần 1 lần và trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau sẽ có một làn da sáng mịn, hồng hào, khỏe mạnh.

oliu-07
– Dưỡng tóc, phục hồi tóc yếu: Xu hướng làm đẹp hiện nay là dùng các loại hóa chất với công nghệ và kỹ thuật hiện đại. Ví như việc, ép, nhuộm, sấy, là tóc…Tuy nhiên đây lại chính là “thủ phạm” khiến cho mái tóc trở nên ngày càng khô, xơ, cứng và dễ gãy rụng.
+ Dầu xả: Cách đơn giản, với dầu xả dùng hàng ngày, đổ vào đó 2 giọt dầu ôliu và khuấy thật đều. Sau đó có thể dùng lượng dầu xả này để mát xa nhẹ nhàng lên mái tóc của mình. Sau khi gội với dầu gội thì dầu xả này cùng với tinh dầu ôliu sẽ giúp cho mái tóc của bóng mượt hơn và giảm chẻ ngọn.
+ Dầu gội: Đối với dầu gội, thêm vào dầu gội 2 giọt dầu ôliu và mát xa tóc, sau đó gội sạch với nước lạnh.
+ Hấp tóc: dùng tay ướt làm ướt nhẹ mái tóc (không nên để mái tóc quá ướt). Dùng tay lấy trực tiếp dầu ôliu mát xa nhẹ lên mái tóc, giúp cho tất cả dưỡng chất thấm sâu vào tóc và sau đó bạn dùng khăn bông to hoặc một cái mũ hấp tóc để quấn nhẹ lên tóc và để như vậy khoảng 20-30 phút. Sau đó xả bằng nước và gội đầu lại một lần nữa là sẽ có một mái tóc chắc, khỏe, bóng mượt và hạn chế tóc xơ.

oliu-08
– Điều trị da bị chai sạn: Chỉ cần dùng dầu ô liu xoa lên bàn chân vào mỗi tối trước khi đi ngủ, hoặc có thể rửa chân với hỗn hợp dầu ô liu và muối biển sẽ làm da chân mịn màng.
– Nuôi dưỡng lông mi: Dầu ô liu giúp cho làn mi dày hơn và phát triển, chỉ cần cho một chút dầu lên bông tăm và thoa đều lên mi mỗi ngày để có một làn mi đẹp.

oliu-09
– Làm đẹp móng tay: Một bộ móng tay dài, bóng và khỏe luôn là tâm điểm của sự chú ý. Một tuần hai lần, chăm sóc cho móng tay của mình bằng cách ngâm móng tay vào dầu ôliu. Cách này sẽ giúp cho móng tay chắc, khỏe, hồng hào. Ngoài ra, để cho móng sáng, bóng nên sử dụng thêm một vài giọt chanh vào trong dầu ôliu.

Như Phượng
(Nguồn: Internet)

Ảnh hồ sơ của Như Phượng

Giới thiệu:
Loài cây gắn liền với bao kỷ niệm trẻ thơ thời xưa. Hầu như ngày ấy, trước hoặc sau sân mỗi nhà đều có một cây me hiện diện. Không chỉ đơn thuần là cây che mát cho tụi nhỏ ngồi chơi, mà nó là một trong các loại cây gia vị chính trong bữa ăn hàng ngày. Mỗi lần mẹ muốn nấu nồi canh chua cho cả nhà là chỉ cần hái vài quả me, vài nhành lá, là có ngay một nồi canh chua thơm lừng cho cả nhà cùng thưởng thức. Không chỉ ngon mà còn cực kỳ tốt cho cơ thể.
– Tên khoa học: Tamarindus indica
– Họ: Đậu – Fabacea
– Tên khác: me chua

cay-me-01

Mô tả:
– Me là cây thân gỗ, cao đến 20m, lá kép lông chim chẵn, gồm 10-12 cặp lá chét có gốc không cân xứng, chóp lõm.
– Chùm hoa ở ngọn các nhánh nhỏ, có 8-12 hoa. Hoa có 2 lá bắc vàng, dính nhau thành chóp và rụng sớm; 4 lá đài trắng; 3 cánh hoa vàng có gân đỏ.
– Quả dài, mọc thõng xuống, hơi dẹt, thẳng, thường chứa 3-5 hạt màu nâu sẫm, trơn. Nạc hay thịt của quả (cơm quả) chua, khi chín có vị ngọt.

cay-me-02

Thành phần hóa học:
– Trong hạt me chứa 63% chất gom cứng, 14-18% albuminoids và 4,5-6,5% chất béo đặc.

Công dụng:
1.Dùng làm rau gia vị:
– Lá me non dùng để ăn sống, bóp gỏi: Do lá me non có vị chua nên được trộn với rau sống khác như chuối cây xắt, bắp chuối xắt, bông súng, kèo nèo, rau mác, hẹ nước dùng làm rau ghém hoặc dùng để bóp gỏi.
– Lá me non dùng để nấu canh chua: Lá me non được dùng để nấu canh chua với ếch, nhái, cá đồng, cá biển…rất phổ biến ở Nam Bộ Việt Nam.
– Cùi thịt làm chất chua: Quả tươi được nướng hay luộc chín, dầm nát trong nước sôi để lấy nước nấu canh chua, nấu lẩu, bóp gỏi, sườn xào chua ngọt, tôm rang me,…

cay-me-03
– Quả me sống, me dốt để ăn chơi: Quả me sống và đặc biệt là me dốt được dùng để ăn sống trực tiếp, nhất là những phụ nữ mang bầu.
– Cùi thịt quả me sắp chín dùng làm mứt, ô mai: Quả me sắp chín gọt vỏ, tách hạt ngào đường làm mứt, ô mai là món ăn rất khoái khẩu.

cay-me-04
– Cùi thịt quả chín dùng làm nước giải khát: Cùi thịt quả chín xay nhuyễn hòa với nước đường làm nước giải khát, gải nhiệt.

cay-me-05
– Cùi thịt quả chín làm tương me: Cùi thịt quả chín xay nhuyễn làm tương me trong chế biến gia vị hiện đại như tương ớt, nước me cho món cá đuối nướng khô.

cay-me-06
2. Nhiều bộ phận của cây me dùng làm thuốc :
– Quả me có vị chua, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải rượu, tăng cường tiêu hóa. Chữa các bệnh: phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn; chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa; trị chứng hay chảy máu chân răng; chữa sốt do nắng nóng, rơm, sảy,…
– Vỏ cây me có vị chát, làm săn da, dùng làm thuốc cầm máu, trị ỉa chảy, lỵ và nấu nước ngậm, súc miệng chữa viêm lợi răng. Lá me có tác dụng giải độc, trị bệnh ngoài da, thường tắm cho trẻ em đề phòng bệnh ngoài da vào mùa hè.

Các bài thuốc dân gian:
1-Chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa: Quả me xanh đem cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để ráo nước, giã nát với gừng tươi cho thật nhuyễn, loại bỏ xơ. Thêm đường vừa đủ. Đun nhỏ lửa và đảo đều, sau đó trộn với bột cam thảo vừa đủ khô, rồi đóng khuôn làm thành dạng ô mai, mỗi ngày ngậm 3 – 6 lần.
2-Phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn: Cạo vỏ 30g quả me xanh, rửa sạch cho vào nồi nấu với 300 ml nước, khi còn 200 ml thì bắc nồi xuống, chỉ lấy phần nước, thêm đường vừa đủ và chia ra uống 3 lần trong ngày, uống 3 ngày.
3-Trị chứng hay chảy máu chân răng: 3 – 5g thịt từ quả me chín pha với một chén nước ấm uống trong ngày, uống vào buổi sáng sau bữa ăn. Dùng liên tục trong 7 ngày. Hoặc 20g quả xanh, nạo bỏ vỏ, đun với hai bát nước còn một bát, chia uống hai lần trong ngày, khi uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong. Uống từ 5 – 7 ngày.
4-Giúp giảm đau nhức xương khớp: 100g quả me xanh, đem đun với nước, khi chín vớt ra dầm nát lấy phần thịt (bỏ vỏ và hạt), để nguội trộn với muối đã giã nhỏ thoa đều lên chỗ xương khớp đau nhức, nên thoa vào trước các giấc ngủ trưa và tối. Thoa trong 7 ngày.
5-Chữa sốt do nắng nóng: 15g quả me xanh đã nạo vỏ, đem đun khoảng 1 bát nước, khi sôi dầm nát quả me, sau đó bỏ vỏ và hạt, chắt lấy nước, khi uống pha thêm đường hoặc mật ong. Bài thuốc này, giúp cơ thể hạ nhiệt nhanh chóng, kích thích thèm ăn.
6-Giải nhiệt ngày hè: Nghiền 20g thịt quả me chín với 200ml nước, lượt bỏ hột và xơ, khi uống pha cho thêm ít đường, khuấy đều, có thể cho thêm đá lạnh, uống hàng ngày.
7-Trị rơm, sảy, ghẻ ngứa, lác, lang beng: Dùng lá me già nấu sôi rồi pha ấm, lấy nước rửa mạnh chổ bệnh, sau đó lấy xác đấp 10-15 phút. Sau cùng dùng nước sạch rửa lại. Mỗi ngày làm 1-2 lần.

Như Phượng
(Nguồn: Internet)