Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

moc-huong-001

  1. GIỚI THIỆU:

– Cây mộc hương, cây mộc, mộc tê, quế hoa.

– Tên khoa học: Osmanthus fragrans. Mộc hương thuộc họ Tường vi, cây mọc bụi có tính leo bám rụng lá.

– Cây có nguồn gốc châu Á, có nhiều ở từ đông Himalaya đến Hoa Nam (Quý Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam), Đài Loan, nam Nhật Bản.

– Bên cạnh đó, cây mộc hương có 2 loại đó là mộc hương nhỏ và mộc hương to. Hai loại này phân biệt với nhau bởi kích thước bên ngoài của cây còn lại những đặc điểm hình thái, sinh lý và những công dụng đều như nhau. Tuy nhiên, chọn làm cây công trình, đô thị thì người ta thường chọn cây mộc hương to để tiện trồng và chăm sóc hơn.

– Đặc điểm hình thái:

+ Hình dánh: Hoa mộc là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, thường xanh, có thể cao 3–12 m.

+ Lá cây mộc hương: Lá dài 7–15 cm và rộng 2,6–5 cm. Hoa màu trắng, vàng nhạt, vàng hoặc vàng cam, dài khoảng 1 cm, mùi thơm mạnh.

Hình dạng hoa và quả: Hoa của cây mộc hương ra rải rác quanh năm, nhưng chủ yếu là mùa thu, hoa mọc thành chùm ở kẽ lá gần ngọn. Cũng như  hoa muồng hoàng yến, hoa mộc hương có màu vàng thơm, đài có bốn răng, tràng có bốn cánh dày hơi liền nhau tại gốc, có hai nhị đối nhau, bầu có hai lá noãn cũng dính nhau phía gốc hoa.

+ Quả hạch hình bầu dục, màu lục, chứa một hạt, nhưng ít khi thấy quả mộc hương.

  1. CÔNG DỤNG:

moc-huong-003

– Cây mộc hương là cây ưa sáng. Cây có hoa đẹp và có hương thơm. Cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc để làm cảnh, thường trồng ở trước sân nhà, trong các chậu cảnh, trong các khu vườn biệt thự, và cả đình chùa vì theo phong thủy cây Mộc có thể đuổi tà khí.

– Hoa mộc hương dùng để ướp trà uống rất thơm. Là loại cây giàu dược tính nên có thể sử dụng hoa, quả, rễ, vỏ thân của cây hoa mộc để làm thuốc chữa trị được nhiều bệnh. Đông y cho rằng, hoa mộc có vị cay, tính ấm, có tác dụng tán hàn phá kết, hoá đàm, chữa đau răng, ho nhiều đờm, kinh bế, đau bụng.

– Còn quả hoa mộc hương có vị cay ngọt, tính ấm, có tác dụng tán hàn, bình can, ích thận, chữa đau dạ dày do hư hàn. Rễ cây hoa mộc thì có vị ngọt, hơi chát, tính bình, tác dụng khử phong, chỉ thống, chữa phong tê thấp, đau gân cốt, đau lưng, thận hư, đau răng…

– Nhiều tài liệu đông y khác cũng cho rằng, cây hoa mộc hương chữa được các bệnh đường hô hấp trên như viêm họng, ho, các bệnh răng miệng, hôi miệng, chữa bế kinh, đau bụng, làm thuốc dưỡng tóc, làm thơm tóc (hoa mộc nấu với dầu vừng làm dầu thơm) …

– Quả cây mộc hương được dùng làm thuốc trị đau dạ dày, đau gan, thận do lạnh. Vỏ thân cây hoa mộc nấu lấy nước uống làm sáng mắt, tăng sắc đẹp.

– Rễ cây hoa mộc hương làm thuốc chữa phong thấp, nhức mỏi gân xương, thận hư, đau răng.

– Một số phương thuốc chữa bệnh từ cây hoa mộc :

* Chữa hôi miệng, đau răng: Dùng 2 – 3g hoa mộc sắc hoặc ngâm với rượu, lấy nước thuốc ngậm và súc miệng nhiều lần trong ngày.
* Chữa viêm họng, ho nhiều đờm: Dùng 2 – 3g hoa mộc đem hãm hay ngâm rượu hoặc sắc rồi uống hay ngậm và khò họng, ngày dùng 2 – 3 lần.
* Chữa loét miệng: Lấy 3 – 5 hoa mộc, phơi khô trong râm, tán thành bột mịn rồi lấy bột này rắc vào nơi miệng loét ngày vài lần sẽ khỏi.
* Chữa đau dạ dày, đau gan, thận do lạnh: Dùng quả mộc 10 – 12g sắc lấy nước thuốc uống trong ngày.
* Làm sáng mắt và tăng sắc đẹp: Lấy vỏ thân cây mộc sắc uống làm sáng mắt, tăng sắc đẹp, mỗi ngày dùng 10 – 12g.
* Chữa phong thấp, nhức mỏi gân xương, thận hư, đau răng: Dùng rễ mộc tươi 25 – 50g, hoặc rễ khô 9 – 15g, tất cả sắc hoặc ngâm rượu uống.
* Chữa đau dạ dày: Lấy quả cây hoa mộc 6g, hương phụ 9g, cao lương khương 5g, tiểu hồi 3g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
* Chữa đau răng: Rễ hoa mộc 9g, cúc hoa 15g, địa cốt bì 15g, tế tân 3g, sắc lấy nước ngậm và nuốt từ từ.
Hoặc: Hoa mộc 10g, vỏ cây đại 8g, lá nhãn 10g, lá lốt 8g, rượu trắng 150ml. Cho các vị thuốc vào rượu đun sôi kỹ, chắt lấy nước dùng bông chấm nước thuốc này đặt vào chỗ đau. Ngày 2 – 3 lần.
* Làm thuốc dưỡng tóc và thơm tóc: Dùng hoa mộc và dầu vừng nấu với nhau rồi dùng chải lên tóc.
* Chữa ho: Hoa mộc 5g, húng chanh 10g, cam thảo đất 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cần uống liền 3 – 5 ngày.
* Chữa bế kinh, đau bụng: Hoa mộc 7g, luân kế 10g, ngải cứu 10g, ích mẫu 8g. Sắc lấy nước thuốc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cần uống liền 3 – 5 ngày.
* Chữa đau lưng: Rễ mộc 10g, cau trúc 15g, ngũ gia bì 8g, đỗ trọng 12g, cỏ xước 10g, rễ cây lá lốt 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, cần uống liền 5 – 7 thang.

  1. CÁCH TRỒNG CÂY MỘC HƯƠNG:

moc-huong-004

– Chôn cành:
+ Chọn cành to khỏe mọc cách năm, ở vị trí trồng, dùng cuốc đào lên, cho cành cây vào, sau đó lấp sâu 15cm, lấp kín đất, ấn chặt, bên trên dùng 1 viên gạch dựng đứng để cho cây mọc thẳng lên trên. Nếu như cành chôn quá dài, cũng có thể tùy cơ uốn hình.

+ Đất chậu dùng để chôn cần đảm bảo hàm lượng nước là 70%. Khoảng hơn 1 tháng sau thì cành chôn mọc rễ, quan sát phần bị đè gạch nếu thấy rễ không chuyển sang màu vàng, thì chứng tỏ rễ còn non, có thể để nó sinh trưởng tiếp 1 thời gian nữa, đợi đến khi rễ chuyển sang màu vàng thì cắt cành chôn ra khỏi cây mẹ để đem trồng.

– Cắt ghép: Tốt nhất nên tiến hành ghép vào trước hoặc sau mùa xuân. Dùng Thích mai (Mai gai) làm gốc ghép, sau đó chọn cành Mộc hương to khỏe làm cành ghép, phương pháp này thao tác giống với của hoa Mai.

– Giâm cành:

+ Cắt những cành phụ đã ra hoa 1 – 2 năm, lấy phần giữa của cành, cắt thành đoạn dài 12 – 15cm, bên trên có 3 – 4 chồi, sau đó tiến hành giâm, trên mặt đất hoặc trên chậu.

+ Phía bên trên cành giâm giữ lại 2 lá, các lá còn lại đem cắt bỏ hết, sau đó cắm xuống đất sâu bằng 2/3 chiều dài cành giâm, đặt vào chỗ râm mát, mỗi ngày phun tưới nước 1 – 2 lần, nửa tháng sau thì cành giâm mọc rễ và nảy chồi.

+ Những cây mộc hương con trồng trên mặt đất vào đông cần phải rắc cỏ vụn để chống rét, đối với những cây giâm trong chậu thì mùa đông đưa chậu vào trong nhà, đến mùa xuân năm sau thì có thể đánh trồng.

– Dù trồng trên chậu hay trồng dưới đất thì kĩ thuật trồng và chăm sóc cũng tương tự nhau:

+ Chúng ta chọn đất bùn ao, đã được phơi khô, sau đó sắt thành những mảng đất như nắm tay.

+ Trải đất này lót xuống đấy chậu hoặc hố nơi sẽ trồng cây, chúng ta bón thêm ít phân lân, hoặc phân hữu cơ. Sau đó đặt cây vào, vùi đất xung quang bầu, và phủ lên mặt bầu.

+ Tùy vào độ cao cây, nơi muốn đặt cây mà chúng ta kê bầu cao hay thấp cho phù hợp.

+ Thường xuyên tưới nước và bón phân cho cây để cây phát triển tốt.

+ Cây trồng tốt tại những nơi có ánh sáng mặt trời.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

bo-ket-001

  1. Giới thiệu.
  • Bồ kết còn được goi là bồ kếp, chùm kết, tạo giác, tạo giáp, trư nha tạo giác.
  • Tên khoa học: Fructus Gleditschiae.
  • Cây gỗ to, cao 5 – 7m. Thân thẳng có vỏ nhẵn và gai to, cứng, phân nhánh, dài 10 – 25cm. Cành mảnh, hình trụ, khúc khuỷu, lúc đầu có lông sau nhẵn và có màu xám nhạt. Lá kép, mọc so le, hai lần lông chim, cuống chung dài 10 – 12cm hay hơn, có lông nhỏ và có rãnh; lá chét 6 – 8 đôi mọc so le, hình thuôn, bóng và hơi có lông ở mặt trên, nhạt hơn và nhẵn ở mặt dưới, đầu lá chét tròn, gốc lá lệch, mép có răng cưa nhỏ; lá kèm nhỏ, rụng sớm. Cụm hoa mọc thành chùm ở ngoài kẽ lá, dài 10 – 15cm; hoa màu trắng tụ họp 2 – 7 cái trên những cành ngắn; đài hình ống; tràng 5 cánh; hoa đực có 10 nhị và không có bầu; hoa lưỡng tính có 5 nhị, bầu có nhiều lông đựng 12 noãn. Quả đậu mỏng, dài 10 – 12cm, rộng 1,5 – 2cm, thẳng hoặc hơi cong, dày lên ở các hạt, khi còn tươi mặt ngoài có một lớp phấn màu lam, chứa 10 – 12 hạt bao bọc bởi một lớp cơm màu vàng, khi chín quà màu vàng nâu, để lâu chuyển sang đen.

bo-ket-003 bo-ket-002

  1. Công dụng.
  • Ở Việt Nam, nhân dân dùng quả bồ kết ngâm hoặc nấu nước gội đầu, làm sạch gầu, trơn tóc, và dùng giặt quần áo len, dạ, lụa có màu, không bị hoen ố và không phai màu.Trong y học hiện đại, một số bệnh viện đã dùng bồ kết để chữa bí đại, trung tiện sau khi mổ, tắc ruột, dùng cho cả trẻ em và người lớn. Cách dùng: lấy 1/4 quả nướng thật vàng, bỏ hạt, tán thành bột mịn. Chấm bột đó vào đầu canule đưa sâu vào hậu môn 3 – 4cm, làm như vậy 3 – 4 lần, Sau 3 – 5 phút, bệnh nhân đánh trung tiện và thông dại tiện.Quả bồ kết còn dược dùng trong các trường hợp trúng phong, hôn mê bất tỉnh, cấm khẩu, hen suyễn, mụn nhọt, viên tuyến vú, đau nhức răng.
  • Trị trúng phong cấm khẩu: dùng quả bồ kết bỏ hạt, lấy vỏ nướng cháy nghiền thành bột, ngày uống 0,5 – 1g. Nếu sắc thì dùng 5 – 10g quả bồ kết bỏ hạt sắc uống.

bo-ket-005

  • Trị méo miệng do trúng gió: dùng khoảng 10 quả bồ kết nướng giòn, tán nhỏ mịn, trộn với loại dấm tốt cho sền sệt. Miệng méo về bên trái thì đắp má bên phải và ngược lại. Khi nào khô thì hòa thêm dấm cho vừa dẻo để đắp. Cách này có tác dụng với người mới bị bệnh.
  • Trị co giật, kinh giản,đờm ngược lên nghẹt cổ, miệng sùi đờm dãi, hoặc hen suyễn, đờm kéo lên khò khè khó thở: dùng bột bồ kết đốt tồn tính và phèn phi lượng bằng nhau, trộn đều, hòa vào nước cho uống mỗi lần 0,5g, ngày uống 3 – 6g cho đến khi nôn đờm ra hoặc hạ đờm xuống được thì thôi.
  • Trị trẻ nhỏ bị chốc đầu, rụng tóc:bồ kết đốt ra than, tán nhỏ rửa sạch vết chốc, rồi đắp than bồ kết lên.
  • Trị trẻ nhỏ chốc đầu, lở ngứa do nấm:ngâm bồ kết vào nước nóng rửa sạch chỗ tổn thương, sau đó lấy bột bồ kết đã đốt tồn tính tán bột rắc vào.
  • Trị sâu răng, nhức răng:quả bồ kết tán nhỏ, đắp vào chân răng, nếu chảy nước dãi thì nhổ đi; hoặc dùng bột bồ kết đốt tồn tính nhét vào chân răng.
  • Trị nhức răng, sâu răng: lấy quả bồ kết nướng cháy đen, bẻ vụn rồi ngâm với rượu trắng (1 phần bồ kết, 4 phần rượu). Để qua 1 ngày, 1 đêm rồi mang thuốc này ra ngậm, nhổ đi rồi lại ngậm, làm vài ngày là khỏi.
  • Trị nghẹt mũi, khó thở hoặc viêm xoang:đốt quả bồ kết, xông khói vào mũi, mũi sẽ thông và dễ thở hơn.
  • Thông mũi, tỉnh não:hãm nước từ trái bồ kết tươi hoặc phơi khô nghiền nhỏ và pha nước uống, hương vị và mùi thơm của bồ kết có tác dụng thông tắc mũi, ngạt mũi, thông khí, sảng khoái tinh thần.
  • Trị ho:bồ kết 1g, quế chi 1g, đại táo 4g, cam thảo 2g, sinh khương 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.
  • Hỗ trợ giảm đường huyết: trong trái và gai bồ kết có một số chất giúp hạ đường huyết rất hiệu quả, tuy không có tác dụng mạnh và giảm đường huyết nhanh như công dụng của insulin, nhưng nó có thể giúp bệnh nhân giảm một cách từ từ, ổn định mà không gây ra tụt huyết áp quá đột ngột. Trong chất keo của hạt bồ kết tươi có chứa một số chất protein, đường tự nhiên, glycosid… giúp chất xơ hòa tan và những chất ổn định đường huyết. Người bị bệnh đái tháo đường có thể dùng tươi hoặc phơi khô trái bồ kết hãm nước rồi uống dần giúp trị bệnh đái tháo đường. Trong khi uống hàng ngày cần lưu ý lượng đường huyết để có liều lượng phù hợp.
  • Trị phụ nữ sưng vú:gai bồ kết thiêu tồn tính 40g, bạng phấn 4g. Hai vị đều tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 4g.
  • Phòng bệnh cho sản phụ:lấy 1 chậu than củi đốt cháy đỏ rồi rải 1 lượt quả bồ kết cùng 1 ít muối cho sản phụ xông.
  • Trị kiết lỵ kéo dài không khỏi:dùng 50g hạt bồ kết sao vàng hơi sém, tán thành bột mịn, trộn với hồ nếp, hoàn viên to bằng hạt ngô. Ngày uống 10 – 12 viên, chia làm 2 lần sáng, chiều.
  • Trị bí đại tiện:lấy 3 – 6g hạt bồ kết sắc đặc rồi uống.
  • Trị bí đại tiện:lấy 200 hạt bồ kết không mọt, không sâu, tẩm sữa rang vàng, tán nhỏ mịn, hòa với mật, làm thành viên to bằng hạt đậu to, mỗi lần uống 30 viên sau bữa ăn khoảng 30 phút.
  • Trị bí đại tiện, tắc ruột hoặc bụng trướng sau mổ không trung tiện được, hoặc phù ứ nước: dùng bồ kết đốt tồn tính tán bột, trộn với dầu đậu phộng hoặc dầu mè tẩm vào bông để vào trong hậu môn, làm vài lần sẽ trung tiện được và thông đại tiện.
  • Trị trẻ nhỏ bị đầy bụng:đốt quả bồ kết trên bếp than, hứng khói vào bàn tay hoặc lá trầu rồi ép vào bụng trẻ.
  • Hỗ trợ tiêu hóa:trong thành phần của trái bồ kết có chứa nhiều chất protein, vitamin E, glycosid (một loại có tính chất tẩy rửa nhẹ giống như thuốc xổ). Glycosid hơi độc nhưng lại có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa, tăng lực co bóp cho trực tràng, dạ dày và ruột non, giúp việc hấp thụ thức ăn, hòa tan các chất xơ được diễn ra dễ dàng. Vì vậy, bồ kết được dùng để trị một số bệnh về đường tiêu hóa, kiết lỵ, trẻ con bị đầy hơi, chống rối loạn tiêu hóa có hiệu quả khá tốt.
  • Trị trĩ:lấy 15 quả bồ kết cho vào nửa xô nước đun sôi kỹ rồi đổ ra chậu, đợi đến khi nước bớt nóng, có thể thò tay vào được thì cho người bệnh ngồi vào chậu để ngâm. Đến khi nước nguội thì lấy tay đẩy búi trĩ cho thụt vào và băng lại để giữ. Đồng thời lấy 5 quả bồ kết tẩm sữa nướng giòn, tán nhỏ mịn, hòa với mật, đường đặc cho vừa dẻo. Viên hỗn hợp trên thành từng hạt như hạt đậu, mỗi ngày uống 20 viên, uống hết chỗ thuốc đó thì thôi.
  • Trị giun kim:dùng bồ kết đốt tồn tính tán bột, trộn với dầu đậu phộng hoặc dầu mè tẩm vào bông để vào trong hậu môn, làm vào buổi tối, liên tiếp 3 ngày, mỗi ngày một lần.
  • Trị mụn nhọt sưng tấy, đau nhức:dùng 4 – 8g gai bồ kết sắc uống mỗi ngày
  • Trịquai bị: lấy một lượng vừa đủ quả bồ kết, đốt thành than, tán bột mịn, trộn với dấm thanh. Lấy bông thấm thuốc này đắp lên chỗ quai bị, khoảng 20 – 30 phút lại thay thuốc 1 lần.
  • Trị trứng cá, tàn nhang:lấy 1 chén nhỏ hạt bồ kết, 40g hạnh nhân, hai thứ đem tán mịn. Buổi tối gần đi ngủ thì lấy 1 thìa hỗn hợp trên pha ít nước cho sền sệt rồi bôi lên chỗ có trứng cá, tàn nhang. Sáng dậy rửa sạch.
  • Trị ghẻ lở lâu năm:lấy khoảng 10 quả bồ kết nhét vào dạ dày heo (đã rửa sạch), buộc kín và nấu chín. Sau đó bỏ bồ kết và ăn hết dạ dày heo. Sau khi uống thuốc này, bệnh nhân sẽ bị đi ngoài lỏng nhưng không có gì đáng ngại.
  • Trị mụn nhọt bọc không vỡ mủ:gai bồ kết 5 – 10g nấu nước uống. Có thể phối hợp gai bồ kết với kim ngân hoa, cam thảo, mỗi vị 2- 8g, sắc nước uống.
  • Dân gian còn có kinh nghiệm dùng gai bồ kết và quả bồ hòn đốt thành than, tán bột mịn, trộn với bồ hóng bếp và nhựa thông làm cao dán nhọt cho rút mủ rất tốt.
  • Trị rụng tóc:

bo-ket-004

  • Gội đầu bằng bồ kết nguyên chất: dùng khoảng 300g quả bồ kết khô và nấu với một lượng nước vừa đủ để có thể gội đầu. Nấu nước bồ kết và pha thêm với nước lạnh bên ngoài và gội đầu đều đặn. Đây là cách trị rụng tóc đơn giản từ bồ kết mà người ông bà chúng ta đã từng dùng.
  • Hương nhu và bồ kết: đây là một sự kết hợp khá tốt để giúp mái tóc dày dặn và óng ả hơn.Cây hương nhu trắng có chứa tinh dầu, làm ra mồ hôi, làm thông thoáng da đầu, nhẹ đầu, sảng khoái khi gội đầu, giúp tăng lưu thông khí huyết dưới da, kích thích mọc tóc mới. Dược hiện đại đã chứng minh tinh dầu hương nhu có tác dụng chống oxy hóa, chống nhiễm khuẩn. Có thể nấu chung hương nhu với quả bồ kết thành hỗn hợp và gội đầu hàng tuần để cảm nhận một mái tóc dày và mềm hơn mỗi ngày.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

sai-ho-001

  1. Giới thiệu.
  • Cây Sài Hồ được đánh giá là một trong những loại cây thuốc nam chữa bệnh quý, có nhiều tác dụng chữa bệnh, được sử dụng nhiều trong Đông Y.
  • Tên khoa học là: Bupleurum chinesnis, thuộc họ Hoa Tán.
  • Là cây lá giống lá trúc, nhưng nhỏ hơn, hoa vàng và thơm, thường gọi là Bắc Sài hồ. Rễ sử dụng làm thuốc thẳng, vỏ vàng đen, chắc, ít rễ con và cũng thơm ít hơn so với rễ cây Lức.
  1. Công dụng.
  • Theo kết quả nghiên cứu hiện về cây Sài hồ thấy thuốc có tác dụng giải nhiệt trên thực nghiệm kể cả lâm sàng. Ngoài ra còn tác dụng giảm đau, làm dịu đau tức sườn ngực, khai uất, điều kinh. Kháng khuẩn trên in vitro, có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn lao. Có khả năng kháng virus như ức chế mạnh đối với virus cúm và virus bại liệt.
  • Đông y cho rằng Sài hồ có vị đắng, tính bình. Quy vào các kinh Can, Đởm, Tâm bào và Tam tiêu. Tác dụng của thuốc là phát biểu, hòa lý, thoái nhiệt, thăng dương, giải uất, điều kinh. Dùng sống trị ngoại cảm, giải nhiệt, lợi tiểu tiện, ra mồ hôi. Khi thuốc được tẩm sao để trị hoa mắt, ù tai, kinh nguyệt không đều hay trẻ bị lên đậu, sởi, sốt rét, sốt thương hàn. Tuy nhiên với những người hỏa hư không dùng hoặc có hội chứng can dương vượng hay can âm hư. Liều trung bình cho mỗi ngày 12 – 24g.
  • Phương thuốc trị bệnh tiêu biểu mà trong đó có vị Sài hồ.
    • Tán nhiệt, giải biểu: Sài hồ 12g, hoàng cầm 12g, pháp bán hạ 12g, cam thảo 4g, sinh khương 8g, đảng sâm 12g, đại táo 3 quả. Sắc uống. Trị chứng thiếu dương, lúc sốt lúc rét, ngực hông đầy tức, miệng đắng họng khô, tim hồi hộp, hay nôn oẹ, chán ăn; cũng dùng trị sốt rét.
    • Thông lợi, giảm đau: sài hồ 40g, đương quy 40g, bạch mao căn 40g, sái thảo 40g, xích thược 40g, địa long 40g, chỉ thực 40g, bồ hoàng 40g, ngũ linh chi 40g, thanh bì 20g, kê nội kim 30g, miết giáp 70g, gan lợn khô 140g. Các vị tán thành bột mịn, luyện với mật thành hoàn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 12g, uống với nước sôi để nguội. Trị viêm gan mạn tính, gan mới xơ cứng, đau nhức vùng gan, bụng đầy trướng.
    • Chữa sốt, hư lao, phát sốt, tinh thần mệt mỏi: Dùng phương “Tiểu Sài hồ thang” gồm các vị Sài hồ 15g, Nhân sâm 4g, Hoàng cầm 2,5g, Sinh khương 4g, Bán hạ 7g, Cam thảo 4g, Táo 4g, cho 3 bát nước sắc còn lại 1 bát rưỡi, chia 3 lần uống trong ngày.
    • Chữa hư lao phát sốt, cảm mạo phát sốt: Dùng Sài hồ 160g, Cam thảo 40g, hai vị tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần lấy 8g đun với 1 bát nước uống.
    • Trị Can khí (tức biểu hiện can khí uất như ngực sườn đau tức trong đau thần kinh liên sườn, viêm gan, viêm túi mật, kèm theo rối loạn tiêu hóa thể hiện chán ăn, bụng đầy, ợ hơi, ợ chua, trong người nóng, mạch huyền, tức hội chứng can vị bất hòa): Dùng phương “Tiêu dao tán” trong Hòa tể cục phương gồm vị Sài hồ 12g, Đương quy 12g, Bạch thược 12g, Bạch truật 12g, Bạch linh 12g, chích Cam thảo 4g, sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần. Tuy nhiên cần gia giảm tùy theo bệnh chứng như loét dạ dày tá tràng, rối loạn kinh nguyệt, cao huyết áp, suy nhược thần kinh nếu có kèm các triệu chứng như vừa nêu sử dụng phương này rồi gia giảm cho phù hợp với người bệnh đều cho kết quả tốt.
    • Thuốc tác dụng thăng dương (phù hợp với những chứng do tỳ khí hư nhược, gây tiêu chảy kéo dài hay chứng sa trực tràng, sa tử cung, kinh nguyệt kéo dài, rong kinh, khí hư nhiều): Dùng phương “Bổ trung ích khí” trong Tỳ vị luận gồm Hoàng kỳ 20g, Đảng sâm 12g, Bạch truật 12g, Đương quy 12g, Trần bì 4 – 6g, chích Cam thảo 4g, Thăng ma 4 – 8g, Sài hồ 6 – 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần. Ngoài ra còn sử dụng Sài hồ phối hợp với các vị khác để trị mỡ máu cao, viêm gan, viêm giác mạc do virus, trị luput ban đỏ và các chứng cảm mạo…
  • Lưu ý: Theo một số tài liệu khuyên không nên sử dụng Sài hồ khi ho do phế âm hư, hay triều nhiệt (sốt định kỳ), huyết áp cao có hội chứng can hỏa thượng nghịch (như đau đầu, ù tai, chóng mặt), không nên dùng liều cao vì có thể gây tăng bệnh, thậm chí gây xuất huyết. Khi bị lao phổi có triệu chứng can khí uất cần sử dụng liều Sài hồ thấp chừng 4 – 6g cho mỗi thang/ngày. Nên phối hợp Sài hồ với Bạch thược để làm tăng tác dụng thư can trấn thống, mặt khác lại còn làm dịu tính kích thích của Sài hồ đối với cơ thể.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

hai-trung-kim-001

  1. Giới thiệu.
  • Hải trung kim còn được gọi là cây leo cỏ đuôi chồn, hải kim sa, bòng bong, thòng bong, thạch vĩ dây,…
  • Tên khoa học: Lygodium flexuosum.
  • Cây dây leo với cuống chính khá dày (2,5 mm), thân rễ bò. Lá cây dài xẻ 2, 3 nhánh lông chim dài khoảng 15 – 30 cm, sắp xếp xen kẽ dọc theo cuống chính. Mỗi cuống có từ 3 – 4 lá (đôi khi 5 – 6 lá) mỗi bên. Lá hải trung kim có diện tích 4 – 12 x 1 – 2,5 cm, mặt lá có phủ lông dài khoảng 3 – 8 mm. Lá có phần đáy phình to hình trái tim, nhỏ dần về phía đỉnh. Phần mép lá có các nang tròn, bào tử là những hạt phấn nhỏ màu vàng nhạt hay nâu vàng, chất nhẹ, sờ nhẵn, cảm giác mát tay, nom tựa cát biển.

hai-trung-kim-002

  • Cây phân bổ chủ yếu tại ở miền đông châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea, Philippines, Australia.
  1. Công dụng.
  • Theo Đông y, Hải trung kim có vị ngọt, tính hàn. Có tác dụng thnh nhiệt giải độc, lợi niệu thông lâm. Thường sử dụng để chữa các bệnh liên quan đến tiết niệu, viêm gan, viêm thận phù thũng, yết hầu sưng đau, quai bị,…Dân gian ta thường dùng toàn cây hải trung kim làm thuốc sắc uống để thông tiểu tiện, chữa chứng tiểu khó, bí tiểu, tiểu dắt, tiểu buốt…
  • Một số công dụng của hải trung kim:
    • Chữa ăn uống khó tiểu, bụng trướng đầy do thấp trệ (tỳ thấp trướng mãn):Hải kim sa 30g, Bạch truật 8g, Cam thảo 2g; sắc nước uống mỗi ngày một thang.
    • Toàn thân phù thũng, bụng trướng như cái trống, nằm không thở được:Hải kim sa 15g, hạt Bìm bìm (khiên ngưu tử) 30g – một nửa để sống một nửa sao chín, Cam toại 15g; tất cả nghiền thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần dùng 8g bột thuốc sắc với một bát nước, uống vào trước bữa ăn hàng ngày.
    • Chữa viêm gan:Hải kim sa 15g, Nhân trần 30g, Xa tiền thảo 20g; sắc nước uống mỗi ngày một thang.
    • Đi lị ra máu:Dây và lá thòng bong 60-90g, sắc kỹ với nước, chia thành 2-3 lần uống trong ngày.
    • Chữa ỉa chảy (phúc tả):Thòng bong cả cây, sắc nước uống.
    • Chữa di tinh, mộng tinh (mộng di):Dây thòng bong đốt tồn tính, nghiền mịn; mỗi lần dùng 4-6g hoà với nước sôi uống.
    • Chữa đái ra dưỡng chấp (cao lâm):Dùng Hải kim sa 40g, Hoạt thạch 40g, Cam thảo 10g; tất cả đem tán nhỏ, trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g; dùng nước sắc với khoảng 20g Mạch môn (củ tóc tiên) hoặc 10g Cỏ bấc đèn (đăng tâm thảo) để chiêu thuốc.
    • Chữa tiểu tiện lẫn sỏi sạn (thạch lâm):Dùng Hải kim sa 30g, Hoạt thạch 30g, Bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 30g, Kim tiền thảo 60g, Xa tiền thảo (cỏ mã đề) 12g; sắc kỹ với nước, chia 3 phần uống trong ngày.
    • Chữa tiểu tiện xuất huyết : Hải kim sa tán thành bột mịn; ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g, hoà với nước đường cùng uống.
    • Trà lợi tiểu – Dùng trong các trường hợp tiểu tiện khó khăn:Hải kim sa 60- 90g, sắc với nước, thêm chút đường vào uống thay trà trong ngày.
    • Chữa viêm tuyến vú:Hải kim sa 25- 30g, sắc kỹ với nửa phần nước nửa phần rượu, chia 3 phần uống trong ngày.
    • Phụ nữ ra nhiều bạch đới (đới hạ):Dùng dây thòng bong 1 lạng, cắt thành những đoạn nhỏ, nấu kỹ với thịt lợn nạc thành món hầm; bỏ bã thuốc, ăn thịt và uống nước canh.
    • Chữa bỏng lửa:Hải kim sa thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với dầu vừng bôi vào chỗ bị bỏng.
    • Chữa mụn rộp loang vòng:Dây và lá thòng bong tươi đem giã nát, đắp vào nơi bị bệnh ngày 2 lần.
    • Ong vàng đốt bị thương:Dùng lá thòng bong tươi giã nát, đắp vào chỗ bị thương.
    • Chữa vết thương phần mền:Dùng lá trầu không tươi 40g, phèn phi 20g, nước 2 lít. Nấu lá trầu với 2 lít nước, để nguội, gạn lấy nước trong, cho phèn phi vào, đánh cho tan, đem lọc để rửa vết thương. Sau khi rửa vết thương, băng bằng thuốc say đây: Lá mỏ qụa tươi bỏ cọng, giã nhỏ đắp lên vết thương; nếu vết thường xuyên thủng thì đắp cả 2 bên: ngày rửa và thay băng 1 lần; sau 3-5 ngày thấy đỡ thì 2 ngày thay băng 1 lần. Nếu vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt, thì thay thuốc đắp: gồm lá mỏ qụa tươi và lá bòng bong – hai thứ bằng nhau; giã nát đắp vào vết thương, ngày rửa thay băng 1 lần, 3-4 ngày sau lại thay đơn thuốc lần nữa: lá mỏ quạ tươi, lá thòng bong tươi, lá cây hàn the – 3 vị bằng nhau, giã nát, đắp lên vết thương nhưng chỉ 2-3 ngày mới thay băng 1 lần.
  • Kiêng kỵ: Người âm hư không bị thấp cấm uống.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

ma-de-001

  1. Giới thiệu.
  • Mã đề còn được gọi là Mã đề thảo, Xa tiền, Mã đề á.
  • Tên khoa học: Plantago major
  • Là loại cỏ sống lâu năm, thân nhẵn. Lá mọc thành cụm ở gốc, phiến lá hình thìa hay hình trứng, có gân dọc theo sống lá và đồng quy ở ngọn và gốc lá. Hoa mọc thành bông, có cán dài, xuất phát từ kẽ lá. Hoa lưỡng tính. Quả hộp, trong chứa nhiều hạt màu nâu đen bóng. Mã đề mọc hoang và được trồng ở khắp nước ta.

ma-de-002

  • Phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở các châu lục.Ở Việt nam, Mã đề mọc hoang ở vùng núi.
  1. Công dụng.

ma-de-003

  • Theo Đông y, mã đề vị ngọt, tính hàn, không có độc quy kinh can, thận, bàng quang, phế. Có tác dụng lợi niệu thanh nhiệt, chữa các chứng tả, lỵ. Thuốc có công năng làm mạnh phần âm, ích tinh khí, mát gan, sáng mắt. Mã đề là vị thuốc khá thông dụng được sử dụng phổ biến trong nhân dân ta. Chủ trị các chứng thấp nhiệt gây đái buốt, đái rắt, thủy thũng, phù nề, vàng da. Chữa ho, thông đờm trong viêm phế quản, các bệnh tả lỵ, bệnh đau mắt đỏ, nhức mắt, nước mắt chảy nhiều.
ma-de-004

lá mã đề cai thuốc lá

  • Một số công dụng của cây mã đề:
    • Chữa chứng thấp nhiệt tiểu tiện khó, đái buốt, đái rắt, nước tiểu ít, màu đỏ hoặc đục, dùng xa tiền tử độc vị tán bột ngày uống 8 – 10g chia 2 lần. Trường hợp nặng hơn phải thanh nhiệt lợi thấp dùng hoàng bá 12g, hoàng liên 8g, bồ công anh 12g, tỳ giải 12g, mộc thông 10g, xa tiền tử 12g. Sắc uống ngày một thang.
    • Trường hợp thấp nhiệt nặng thậm chí không đái được, bụng đầy trướng, miệng khô, họng ráo, rêu lưỡi vàng cáu, mạch hoạt sác, dùng bài Bát chính tán gồm xa tiền tử, cù mạch, hoạt thạch, chi tử, mộc thông, biển súc, cam thảo, đại hoàng lượng bằng nhau, tán thành bột kép, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 – 15g chiêu với nước đăng tâm thảo. Sắc uống ngày một thang.
    • Nếu thấp nhiệt thịnh, ứ nghẽn nhiều phải thanh nhiệt, giải độc, hóa ứ, trừ thấp dùng đại hoàng 6g, bạch truật 6g, mẫu lệ 10g, xa tiền tử 16g, hồng hoa 6g, khiếm thực 10g, ngư tinh thảo 10g. Sắc uống ngày một thang.
    • Trường hợp tiểu tiện khó khăn, mặt phù, chân thũng, bụng trướng, kém ăn tiểu tiện vàng, rêu lưỡi nhớt, là khí hóa mất chức năng, dương uất, thủy ứ phải hóa khí kiện tỳ, lợi thấp dùng xa tiền tử 12g, phục linh 12g, trư linh 12g, trạch tả 12g, bạch truật 12g, bạch mao căn 12g, trần bì 12g, trần bì 12g, quế chi 6g, tỳ giải 15g.
    • Nếu tiểu tiện khó khăn do tiền liệt tuyến phì đại, cuối bãi nhỏ giọt không hết, thiên về ứ kết phải hành khí, phá ứ, điều dương, thông lợi dùng xa tiền tử 24g, tạo giác thích 15g, dâm dương hoắc 15g, xuyên sơn giáp 15g, chỉ thực 15g, tiên mao 15g, hồng hoa 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 3 lần.
    • Chữa chứng phù thũng, tiểu tiện không lợi dùng hạt mã đề 15g, phục linh bì 9g, trạch tả 9g. Sắc uống ngày một thang.
    • Trường hợp phù thũng toàn thân tiểu tiện không lợi do phong hàn nhiệt thấp độc bị ứ dẫn đến công năng của 3 tạng tỳ, phế, thận mất điều hòa lại kiêm khái thấu, thở gấp phải tán hàn, tuyên phế, lợi thủy, tiêu thũng dùng xa tiền tử 12g, ma hoàng 6g, tô diệp 9g, trần bì 9g, trư linh 9g, bán hạ 6g, hạnh nhân 9g, phục linh 9g, phòng phong 9g, đan bì 9g.
    • Nếu phù thũng tiểu tiện ít, vàng, sẻn, khó khăn dùng xa tiền tử 12g, mộc thông 5g, phục linh 12g, mẫu đơn bì 12g, đại phúc bì 9g, trần bì 9g, phòng phong 9g, ma hoàng 6g, tô diệp 9g, phòng kỷ 9g, trích tang bạch bì 9g. Sắc uống ngày một thang.
    • Giúp bỏ thuốc lá.
    • Trường hợp phù thũng lúc phát lúc không, xu hướng không nặng, lưng gối yếu ớt, miệng khô, họng ráo, sốt nhẹ, mỏi mệt kèm theo tâm phiền, tai ù, chóng mặt, lưỡi đỏ, mồ hôi trộm phải tư can dưỡng thận, đạm thấm lợi thủy dùng xa tiền tử 25g, trạch tả 20g, bạch phục linh 25g, địa phu tử 25g, mẫu đơn bì 20g, sơn thù du 15g, tang thầm 25g, câu kỷ tử 20g, nữ trinh tử 20g, hoài sơn 20g, can địa hoàng 25g. Sắc uống ngày một thang.
  1. Cánh trồng.
  • Đất trồng và điều kiện phát triển:
    • Mã đề thích ứng với điều kiện sinh thái, cây ưa sáng, chịu bóng, thích ứng với khí hậu và đất đai của hầu hết khắp các vùng trên cả nước. Ở các tỉnh như Lào Cai, Đà Lạt, mã đề mọc hoang bởi điều kiện ở đây thuận lợi cho cây phát triển. Hiện nay, có nhiều vùng sản xuất mã đề làm dược liệu Nghĩa Trai (Hưng Yên), Thanh Trì (Hà Nội), Tuy Hoà (Phú Yên).
    • Đất thích hợp để trồng cây mã đề là đất tơi xốp, không bị ô nhiễm. Trước khi trồng nên phơi ải đất, có thể bón vôi để khử trùng. Khi khi gieo hạt nên dùng phân bón lót giúp cây có dinh dưỡng phát triển.
  • Lựa chọn hạt giống cây mã đề
    • Với hạt giống cây mã đề, bạn có thể tìm mua tại các cửa hàng bán hạt giống uy tín. Khi lựa chọn hạt giống nên lựa chọn hạt giống chất lượng, không sâu bệnh như vậy cây sẽ cho năng suất cao.
  • Gieo trồng và chăm sóc
    • Đất san phẳng, sau đó gieo hạt trực tiếp lên đất. Sau khi gieo hạt phun nhẹ nước tạo độ ẩm cho đất kích thích hạt nhanh nảy mầm.
    • Tưới nước: Thời gian đầu nên cung cấp đầy đủ nước cho cây, tạo độ ẩm cho đất giúp hạt nhanh phát triển.
    • Phòng trừ sâu bệnh cho cây mã đề: Cây mã đề thường gặp các loại sâu ăn lá. Tuy nhiên với các loại sâu này bạn có thể dùng các phương pháp thủ công để trừ, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
    • Sau 1 thời gian chăm sóc, bạn có thể thu hoạch cây mã đề. Cây mã đề có thể dùng lá và toàn cây phơi khô sắc hoặc nấu cao uống.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

sai-dat-001

  1. Giới thiệu
  • Sài hồ hay còn được gọi laf Ngổ núi – Húng trám – Cúc nháp – Ngổ đất – Tân sa.
  • Tên khoa học: Wedelia chinensis (Osb.) Merr.
  • Đặc điểm thực vật, phân bố của cây Sài đất: Sài đất là loại cỏ sống dai, mọc lan bò, thân mọc lan tới đâu rễ mọc tới đấy. Thân màu xanh có lông trắng, cứng, nhỏ. Lá gần như không cuống, mọc đối, hình bầu dục thon dài 2 đầu nhọn, có lông nhỏ cứng ở cả hai mặt. Cụm hoa hình đầu, cánh hoa màu vàng tươi. Cây mọc hoang ở nhiều tỉnh trong cả nước.

sai-dat-002

  • Lưu ý: sài đất dễ bị nhầm với cây lỗ địa cúc ở Trung Quốc (W.prostrata hemsley). Cây lỗ địa cúc có lá ngắn hơn, hoa màu vàng nhạt, quả bé không có lông, ở đầu không thu hẹp, không có vòng lồi lên, và đầu cụt.
  1. Công dụng.

sai-dat-003

  • Sài đất được dùng toàn cây tươi hoặc khô (bỏ rễ) để chế biến thuốc. Thu hoạch quanh năm, tốt nhất vào tháng 4 – 5, lúc cây đang ra hoa, cắt sát gốc; tưới nước, bón phân sau 15 ngày lại thu hoạch được.
  • Đông y cho rằng, sài đất vị ngọt, hơi chua, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu độc, chữa viêm tấy ngoài da, mụn nhọt, bắp chuối, sưng vú, rôm sảy, chốc đầu, đau mắt, giải độc, cầm ho, mát máu; thường được dùng chữa cảm mạo, sốt, viêm họng, viêm phế quản phổi, ho gà, tăng huyết áp, trĩ rò, phòng sởi, mụn nhọt. Theo kinh nghiệm trong nhân dân và một số bệnh viện ở nước ta, sài đất có tác dụng chữa mụn nhọt, chốc, lở ngứa, đau mắt, viêm bàng quang, viêm tuyến vú, hạ sốt, giảm đau, uống phòng sởi biến chứng… Dùng khô ngày dùng 50g, sắc với 500ml nước, lấy 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Tươi dùng 100g.
  • Các bài thuốc chữa bệnh từ sài đất:
    • Chữa rôm sảy trẻ em: Sài đất vò nát, pha nước tắm cho trẻ.
    • Chữa sốt cao: Sài đất 20 – 50g, giã nát, pha với nước uống, bã đắp vào lòng bàn chân.
    • Chữa sốt xuất huyết: Sài đất tươi 30g, kim ngân hoa 20g, lá trắc bá (sao đen) 20g, củ sắn dây 20g (có thể dùng lá sắn dây), hoa hòe (sao cháy) 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang. Nếu sốt cao, khát nhiều, thêm củ tóc tiên (mạch môn) 20g.
    • Chữa viêm cơ (bắp chuối): Sài đất tươi 50g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang. Kết hợp với sài đất tươi, giã nát, đắp tại chỗ nơi bị sưng đau.
    • Chữa viêm tuyến vú: Sài đất 50g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, thông thảo 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần.
    • Chữa viêm bàng quang: Sài đất tươi 30g, bồ công anh 20g, mã đề 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần.
    • Chữa nhọt: Sài đất 30g, kim ngân hoa, lá 15g, khúc khắc (thổ phục linh) 10g, bồ công anh 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần.
    • Chữa mụn, lở, chàm: Sài đất 30g, kim ngân hoa, lá 15g, khúc khắc 10g, ké đầu ngựa 12g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang. Sài đất giã nát, để đắp lên mụn lở lại càng tốt.
    • Hỗ trợ chữa ung thư môn vị: Sài đất 30g, bán chi liên 30g, bạch hoa xà thiệt 30g.
    • Trị mụn và viêm, sưng tấy: Dùng 100g lá sài đất sắc với nước thêm ít đường, uống 2 lần mỗi ngày. Hoặc dùng 100g lá sài đất giã nhỏ rồi hòa với 200ml nước, thêm ít muối rồi lọc lấy nước uống 2 lần mỗi ngày.

sai-dat-004

  • Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần.
  1. Cách trồng.
  • Chọn nơi đất tốt, hơi ẩm cắt nhũng mẩu thân thành từng đoạn dài 20-30cm, hay chọn những đoạn thân có rễ sẵn, vùi 2/3 xuống đất. Trong vòng 15 – 20 hôm cây đã mọc tốt, sau một tháng đã có thể thu hoạch, cắt cây sài đất sát đất, tưới nước bón phân. Tốt thì sau nửa tháng lại thu hoạch được nữa. Thu hoạch gần như quanh năm, nhưng tốt nhất vào vụ hè các tháng 4, 5,8 lúc cây đang ra hoa.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

sam-dat-001

  1. Giới thiệu.
  • Sâm đất còn được gọi là cây quả nổ, tam tiêu thảo, sâm tanh tách, tử ly hoa, tiêu khát thảo,…
  • Tên khoa học: Ruellia tuberosa L.
  • Cỏ đa niên, có củ tròn dài, thân cao 50 cm, vuông, có lông, phù ở trên mắt, phiến lá bầu dục, mặt trên có lông thưa, bìa có rìa lông cứng. Tụ tán ở nách lá. Hoa to, đẹp, lam tím; lá hoa 2 – 3 mm, hẹp, lá đài cao 2,5 cm; vành có ống cao 4 – 5 cm, 5 tai gần nhau bằng nhau; tiểu nhụy 4, trắng, nhị trường, không thò, chỉ dính dài vào ống; nuốm đẹp. Quả nang dài đến 3 cm, nâu đen, nổ mạnh khi tẩm nước; hột tròn dẹp.

sam-dat-002

  • Nguồn gốc Antilles (Trung Mỹ), du nhập vào Việt Nam vào 1909; mọc hoang phổ biến dựa lộ, bình nguyên và trung nguyên; trổ hoa quanh năm.
  1. Công dụng.

sam-dat003

  • Tác dụng của cây sâm đất là long đờm, lợi tiểu, nhuận tràng. Trong dân gian thường sử dụng cây sâm đất để nấu canh và ngâm rượu. Một số công dụng của sâm đất:
    • Chữa tiểu đường : toàn cây tươi 75 g (khô 25 g) sắc uống/ngày, trong nhiều ngày.
    • Chữa cao huyết áp: 12 hoa (tươi hoặc khô), lượng nước vừa đủ, sắc uống.
    • Viêm nhiễm đường tiết niệu, thận: toàn cây tươi 75 – 112 g (dược liệu khô 25 – 38 g) sắc lấy nước để riêng. Và tán bột thêm 20 g khô. Dùng nước thuốc sắc để uống thuốc bột, vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy.
    • Dùng trong ẩm thực: Thức ăn từ cây sâm đất ngon miệng, hương vị lạ, kích thích tiêu hóa và còn nhiều công dụng tốt khác. Lá cây sâm đất được dùng chế biến thành nhiều món như: luộc, xào tỏi, nấu canh sườn, …
    • Trị chứng viêm khớp lấy củ sâm đất ngâm rượu uống; lá nấu canh ăn giúp thanh giải thử nhiệt cơ thể, làm mát gan. Canh rau sâm đất ăn có vị ngọt, hơi chua giống như rau mồng tơi, nhưng không có nhớt.
    • Sâm đất được dùng nhiều trong những bệnh về da như ghẻ. Hạt quả sâm đất khi ngâm nước sẽ tạo ra một thứ keo như thạch có thể dùng đắp mụn nhọt và các vết đứt. Liều dùng 10-25 gr khô/ngày, dạng thuốc sắc.
    • Chữa chứng hay chóng mặt, choáng váng, mệt mỏi, run chân tay: rễ cây Nổ với Dây đau xương lượng bằng nhau (8g), sắc uống.
    • Chữa sốt nóng, khát nước: Vỏ rễ 6g, sắc với 200ml nước còn 50ml uống trong ngày.
    • Chữa đau răng viêm lợi: Rễ sâm đất sắc nước đặc, ngậm rồi nhổ đi, không nuốt.
    • Dịch chiết cành và lá cây sâm đất có tác dụng trừ sâu, sát trùng vết thương khi phối hợp với thuốc lá.Liều thường dùng theo kinh nghiệm dân gian là 6 – 12g vỏ rễ.
    • Chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm thận, người bệnh có thể áp dụng dùng cây sâm đất như sau: Mỗi ngày bạn lấy khoảng 10 – 15g rễ cây sâm đất ở dạng khô đem sắc uống hoặc tán thành một pha với nước uống như uống trà.Trong dân gian thường dùng củ (rễ) sâm đất để ngâm rượu uống. Với người bệnh sỏi thận có thể dùng khoảng 2 – 5g bột rễ cây sâm đất pha với rượu uống trong ngày.
  1. Cách trồng.

sam-dat-004

  • Cách trồng:
    • Sâm đất có thể trồng trên các luống đất với kích thước  rộng 1,2m x cao 10 – 20 cm, kích thước giữa các cây là 15 – 20cm. Cũng có thể trồng trong chậu hay thùng xốp.
    • Đất trồng pha trộn theo tỉ lệ : 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục+ 10% phân chuồng hoai.
  • Chăm sóc: Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho đất, đặc biệt vào mùa nắng hạn. Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non.
  • Thu hoạch: Cây khi phát triển có chiều cao hoặc dài từ 20 – 30cm thì có thể cắt lấy rau. Dùng dao sắc cắt phần thân chồi lá non. Sau thu hoạch bón thúc bằng phân chuồng hoai mục hay phân trùn quế để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất và kích thích rau sớm đọt non mới. Nên thay thế và trồng mới hàng năm.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Xuân Tiên

thuc-quy-001

  1. Giới thiệu.
  • Thục quỳ hay còn gọi là mãn đình hồng.
  • Tên khoa học: Althaea rosea.
  • Là cây sống lưu niên, thân thẳng, có lông, cao 2-3m. Lá mọc so le, dạng tim, chia thuỳ, rộng tới 30cm; mặt lá thô ráp, có lông trắng. Hoa có cuống ngắn, ở ngọn thân, to, rộng 10-12cm, có nhiều màu, từ màu trắng tới màu hồng, đỏ, đỏ thẫm, có loại kép, loại đọn, thường xếp thành từng đôi; lá đài phụ 5-8 có lông trắng, dính nhau ở gốc; đài cao 2-3cm; ống nhị ngắn, bầu 25-45 ô 1 noãn. Quả nằm trong đài, các phân quả không mở.

thuc-quy-002

  • Có nguồn gốc ở Trung Âu và Trung Quốc, được nhập trồng làm cảnh ở nhiều nơi. Ở Việt Nam, thục quỳ có thể trồng từ vùng thấp đến vùng cao, với nhiều giống hoa khác nhau.
  1. Công dụng.

thuc-quy-003

  • Ngoài ý nghĩa mang lại sự thịnh vượng, đầm ấm, vui tươi, cởi mở và tràn đầy may mắn, thục quỳ được xem là một loại dược liệu quý, có công năng xoa dịu những vết thương ở bên ngoài và bên trong cơ thể con người.
  • Một số công dụng của thục quỳ:
    • Chữa viêm mũi dị ứng: cỏ cứt lợn (cỏ hôi) 20g, ké đầu ngựa 16g, thân và lá thục quỳ 20g, cỏ xạ hương (Thymus vulgaris L.) 12g, kinh giới 10g đun với 500ml, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn, uống thuốc ấm.
    • Chữa viêm thận, viêm đường tiết niệu: hạt thục quỳ 12g, rễ thục quỳ 12g, cây cơm cháy (Sambucus javanica Reinw.ex Blume) 30g, bồ công anh 12g, thổ phục linh 12g, mã đề 12g, rễ cỏ tranh 12g nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.
    • Chữa sỏi niệu đạo: hạt thục quỳ 12g, kim tiền thảo 16g, rễ cỏ tranh 10g, mã đề 6g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Liệu trình là 10 ngày. Uống liên tục 3 liệu trình.
    • Chữa viêm họng: cho 2 muỗng rễ thục quỳ khô vào 1 ly nước đun sôi trong vòng 10 phút rồi lọc lấy nước bỏ bã và uống từ 3 đến 5 ly mỗi ngày.
    • Chữa viêm ruột, viêm niệu đạo, đái đỏ, viêm cổ tử cung, bạch đới: rễ thục quỳ 12g, sắc lấy nước uống 3 lần trong ngày.
    • Chữa táo bón, đại tiện không thông: Hạt thục quỳ 12g nấu với 500ml nước, sắc còn 300ml, chia 3 lần, uống trong ngày.
    • Chữa tiểu khó, nước tiểu sẻn đỏ: hạt thục quỳ 6g, rau má 20g, râu bắp 16g, rễ cỏ tranh 10g nấu với 750ml nước, sắc còn 400ml, chia làm 3 lần, uống trong ngày. Uống liên tục trong 5 ngày.
    • Chữa bỏng: hoa và lá thục quỳ, lấy lượng vừa đủ, rửa thật sạch, giã nát, đắp vào nơi bị bỏng. Ngày thay 1 lần.
    • Chữa kinh nguyệt không đều: Rễ thục qùy 12g, cho vào ấm đổ 6 bát nước, sắc nhỏ lửa còn 3 bát, chia 3 lần uống trong ngày. Uống trước chu kỳ kinh nguyệt 15 ngày. Dùng liền 7 ngày.
    • Chữa cảm sốt: Hạt thục qùy 12g, bưởi bung 20g, đổ 6 bát nước, sắc còn 3 bát, chia 3 lần uống lúc còn nóng. Uống liền 3 ngày.
  1. Cách trồng.

thuc-quy-004

  • Là loại cây gieo hạt tự nhiên, không thích chuyển đổi.
  • Ở khu vực không nhiệt đới, cây có thể sống thêm 2 -3 năm nhưng phải cắt bỏ cây mẹ khi thấy bông bắt đầu nhạt đi và phải phủ ủ gốc giữ ẩm.
  • Vào mùa Thu, cây con mọc từ hạt rơi của những mùa trước.
  • Cây lớn nhanh. Tuỳ loại, chúng có thể cao từ 1,5m đến 3,5m
  • Trổ bông dai dẳng từ cuối mùa Đông đầu mùa Xuân, kéo dài sang mùa Hè thậm chí còn lác đác bông tới tận mùa Thu nên trồng với ý định lấy hoa chơi Tết.
  • Cây con thích hợp thời tiết mát mẻ.
  • Cần ánh sáng mặt trời.
  • Không thích hợp nơi có nhiều gió mạnh (dễ làm xô lệch hoặc tét/gãy các nhánh phụ).
  • Bệnh cây: dễ mắc bệnh gỉ sét.
  • Chọn nơi nhận nhiều nắng.
  • Thích hợp nơi có đất trung tính, có vôi.
  • Đất phải ẩm nhưng thoát nước tốt.
  • Đất trồng tuỳ thuộc vào loại hoa. Hoa màu đỏ, màu đen thích hợp với đất pha cát và đất có pha đất sét. Nhưng hầu hết thì không thích hợp với đất sét.
  • Gieo hạt trực tiếp nơi định trồng thì tốt nhất.
  • Phân bón: phân chuồng hoay mục, dynamic lifter, NPK loại tan chậm.
  • Để kéo dài thời gian trổ bông thì nên cắt bỏ những hoa nhạt dần để kích thích ra hoa mới.
  • Chú ý: quan sát mặt dưới của lá vào thời kì cây sắp ra nụ bông để cắt bỏ lá có đốm / mụn màu vàng ở mặt dưới của lá, phải cắt bỏ những lá sâu để tránh lây lan mầm bệnh.
  • Hạt: bảo quản chỗ mát và tối.

Xuân Tiên.
(Nguồn: internet).

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Mạch môn đông là một loài cỏ mọc hoang, được sử dụng rất nhiều làm dược liệu để chữa nhiều bệnh. Ngoài ra, vì hình thái của cây đẹp nên cũng được sử dụng để trồng trang trí trong sân vườn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-1

– Tên gọi khác: cây mạch môn đông, cây mạch môn, môn đông, củ tóc tiên, lan tiên,…

– Tên khoa học: Ophiopogon Japonicus Ker-Gawl.

– Họ thực vật: Mạch môn đông (Convallariaceae).

* Mô tả:

– Thân thảo, sống nhiều năm, có thân ngắn mang nhiều rễ củ mập. Lá hình dải hẹp, dài 15 – 30 cm, rộng 2 – 4 cm, nhẵn, gốc có bẹ to hình màng, đầu nhọn, 5 – 7 gân lá song song, nổi rất rõ, mặt trên xanh lục sẫm, mặt dưới trắng nhạt.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-3

Hoa mạch môn đông.

– Cụm hoa là một chùm dài 10 – 20 cm, cuống có cạnh; hoa màu lục nhạt hoặc lơ sáng; lá bắc không màu hoặc trắng nhạt; bao hoa gồm 6 phiến thuôn; nhị 6, chỉ nhị rất ngắn, bao phấn hình mác.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-2

Quả mạch môn đông.

– Quả mọng, màu tím, đường kính 6mm, chứa 1 – 2 hạt. Mùa hoa quả: tháng 8 – 10.

* Thành phần hóa học:

– Từ rễ của mạch môn, 5 glucosid đã được phân lập. Ba chất đầu khi thuỷ phân thu được diosgenin, ở chất thứ 4, genin là ruscogenin, còn chất thứ 5 cho choophiogenin. Ngoài ra, còn có 11 chất thuộc các nhóm chất sau: Các stigmasterol, b – sitosterol, b – D – glucosid, các hợp chất polysacharid, tinh dầu và các thành phần như b – patchoulen, longifolen, cyperen, a – humulen, guajol, jasmolelon cũng được phát hiện trong cả mạch môn. Gần đây, còn phân lập được các saponin steroid là ophiopogonin A, B, C, D. Ophiopogonin A, B và D khi thuỷ phân cho genin là ruscogenin.

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-6

Cây mạch môn đông trồng bồn, trồng bụi,…

– Cây mạch môn đông có lá, hoa và quả đẹp, có thể trồng thành bồn hoa, phối kết với các loài cây bụi khác trong tiểu cảnh, trồng trong chậu để trang trí,…

* Công dụng trong y học:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-4

Rễ và củ của cây mạch môn đông.

– Theo tài liệu, mạch môn có vị ngọt, hơi đắng tính hơi hàn, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, dưỡng vị sinh tân, hóa đờm, chỉ ho, dùng chữa hư lao, ho, thổ huyết, ho ra máu, miệng khô khát, bệnh nhiệt tân dịch khô. Những người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không dùng được.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-mach-mon-dong-5

Củ của cây mạch môn đông đã làm sạch và sấy khô.

– Bộ phận dùng:  Đoạn rễ phình lên gọi là củ Mạch môn (Radix ophiopogoni) Thu hoạch sau khi trồng 2 – 3 năm lấy củ già có màu hồng (bỏ củ non và đoạn rẽ) rửa  sạch và phơi sấy khô. Khi dùng bỏ lõi.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận cây mạch môn đông:

1. Chữa âm hư, sốt cao, suyễn khát, trên nóng dưới lạnh (toàn chân nhất khí thang): Mạch môn 12g, thục địa 32g, ngũ vị 32g, nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phụ tử chế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

2. Chữa nhiệt thương tổn đến nguyên khí, đoản hơi, khát, phế hư mà ho (Sinh mạch tán): Mạch môn, nhân sâm 2 g; ngũ vị 7 hạt. Sắc uống ngày 1 thang.

3. Chữa cảm nắng thấp nhiệt nhức đầu, mình nóng ra mồ hôi, phiền khát, đái vàng, tức ngực, mình mẩy đau nhức nặng nề, lười ăn, tinh thần mỏi mệt, mạch hư (Thanh thử ích khí thang): Mạch môn 1,2g, hoàng kỳ 6g, thương truật 6g, thăng ma 4g, nhân sâm 2g, bạch truật 2g, trần bì 2g, trạch tả 2g, thần khúc 2g, đương quy 1,2g, cát căn 1,2g, hoàng bá 1,2g, cam thảo 1,2g thanh bì 0,8g, ngũ vị 9 hạt. Sắc uống ngày 1 thang.

4. Chữa nôn khan không dứt (Thanh kim dao khí phương): Mạch môn (sao gạo) 8g, xa tiền (sao qua) 6g, trạch tả (sao muối) 6g, ngưu tất (dùng sống) 4g, nhục quế (kỵ lửa) 4g, xích phục linh 4g, trầm hương (mài vào thuốc) 2 g, ngũ vị 1,6g, gừng sống 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Chữa ăn uống không tiêu (Thông quan giao thác thang): Mạch môn 4g, thục địa 12g, sơn dược 7g (đều tẩm trầm hương), sơn thù 4g, đơn bì 3,6g, ngưu tất 2,4g, trạch tả 2,4g, phục linh 2g, nhục quế 1,2g, phụ tử chế 1,2g. Sắc uống ngày 1 thang.

6. Chữa chứng thực nhiệt, phát cuồng, tinh thần hỗn loạn, khát nước nhiều (Khử nhiệt định cuồng phong): Mạch môn, thạch cao, huyền sâm 80g; phục thần 40g; xa tiền 20g; tri mẫu, sa sâm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

7. Chữa ra mồ hôi nhiều, toàn thân nóng, phiền khát, mê sảng (Cứu âm tiết dương thang): Mạch môn 8g; thục địa 16g; mẫu đơn, đơn sâm, ngưu tất, phục linh 6g; bạch thược 4g; khương thán 1,6g. Sắc uống ngày 1 thang.

8. Chữa kinh sợ, hồi hộp hay quên, ra mồ hôi trộm, kém ăn, ít ngủ, mỏi mệt, phụ nữ kinh trệ, rong kinh (Xuân dục phương): Mạch môn 6g, thục địa 12g, bạch truật 8g, phục linh 8g, ngưu tất 6g, ô dược 4g, phụ tử 4g, ngũ vị 9 hạt. Gia nước gừng sống một ít. Sắc uống ngày 1 thang.

9. Chữa chứng tinh huyết suy kiệt, trong ngực nôn nao, đau từ trên xuống dưới, khô khát, táo kết, gầy sạm (Tư thuỷ nhuận táo phương): Mạch môn 24g, thục địa 80g, thiên môn 24g, phụ tử chế 8g, ngũ vị 20 hạt, sữa người một bát to. Sắc uống ngày 1 thang.

10. Chữa ho, viêm họng: Mạch môn 10g, bách bộ (bỏ lõi sao vàng) 10g, vỏ rễ dâu (cạo vỏ vàng) 10g, vỏ quýt 5g, xạ can 5g, cam thảo dây 5g. Dạng thuốc phiến ngậm, ngày ngậm 4 – 5 lần, mỗi lần 1 phiến (mỗi phiến tương đương 3g), hoặc dạng cao loãng, mỗi lần 1 thìa cà phê.

11. Chữa trẻ em viêm phế quản, viêm họng: Mạch môn 24g, huyền sâm 12g, thiên môn 12g. Sắc uống.

12. Chữa tắc tia sữa: Mạch môn bỏ lõi tán nhỏ. Mỗi lần uống 10 – 12g. Lấy sừng tê giác mài với rượu uống độ 4g làm thang. Uống 2 – 3 lần.

13. Chữa miệng lưỡi lở loét, viêm da ngứa gãi, táo bón, lòi dom, đại tiện ra máu: Mạch môn 20g, huyền sâm 12g, thuốc bỏng 12g, công cộng 6g. Sắc uống hoặc ngậm rồi nuốt dần.

14. Thang tư âm (bổ thuỷ) dùng cho các trường hợp có sốt: Mạch môn, sinh địa, huyền sâm, hạt muồng sao, ngưu tất, tri mẫu, hoàng bá, đan sâm, đơn bì, xích thược, cỏ nhọ nồi, trắc bá sao, huyết dụ, mỗi vị 10 – 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

15. Chữa bệnh tim cùng với bệnh thận: Mạch môn 93g, sinh địa 248g, sơn thù du 124g, sơn dược 124g, mẫu đơn bì 93g, phục linh 93g, trạch tả 93g, ngũ vị tử 62g. Tán thành bột, làm thành viên hoàn, mỗi viên 2,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần.

16. Chữa xơ vữa động mạch, co thắt mạch vành kèm theo loạn nhịp, khó thở, đánh trống ngực: Mạch môn 15,5g, thiên môn 12,5g, sa sâm 9g, đan sâm 9g, ngũ vị tử 6g, viễn chí 6g, cam thảo 3g. Sắc với 600ml nước còn 200ml, chia uống 2 lần trong ngày, uống trong thời gian 1 – 2 tháng.

17. Chữa giai đoạn đầu của lao phổi, hen phế quản, ho gà, viêm phế quản: Mạch môn 18g, bán hạ 9g, thóc tẻ 4,5g, táo 3g, nhân sâm 2g, cam thảo 2g. Sắc với 600ml nước, còn 300ml, chia làm 3 lần trong ngày, uống lúc còn nóng.

18. Chữa suy nhược cơ thể do phế âm hư: Mạch môn 12g, sa sâm 20g, hoài sơn 16; thiên môn, thục địa, mỗi vị 12g; mạch nha, quy bản, tang bạch bì, mỗi vị 10g; trần bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

19. Chữa viêm phế quản cấp tính (Thanh táo cứu phế thang): Mạch môn 12g; đảng sâm 16g; tang diệp, thạch cao, tỳ bà diệp, mỗi vị 12g; hạnh nhân, a giao, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

20. Chữa lao phổi: Mạch môn 12g; đảng sâm hoài sơn, bạch truật, mỗi vị 16g; ý dĩ, thiên môn, quy bản, mỗi vị 12g; a giao 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

21. Chữa nhồi máu cơ tim: Mạch môn, nhân sâm, ngũ vị tử, mỗi vị 12g; cam thảo 6g. Sắc uống.

Chú ý: Người bị hư hàn, ăn uống chậm tiêu, đi lỏng không dùng.

* Cách trồng và chăm sóc cây mạch môn đông:

– Có thể trồng quanh năm. Để tiện nguồn giống, nên trồng vào lúc thu hoạch củ.

– Sau khi thu hoạch củ, tách từng gốc riêng rẽ, cắt bớt rễ, lá để làm giống.

– Cây nọ cách cây kia là 20 cm.

– Mạch môn là cây ưa ẩm, ưa ánh sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng, có thể phát triển trên mọi loại đất, trừ nơi úng ngập .

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).

Ảnh hồ sơ của Chanh Trần

* Giới thiệu chung:

– Hoa mào gà đỏ là một loài cây rất phổ biến ở nước ta, màu hoa rực rỡ và lâu tàn nên được sử dụng rất nhiều trong trang trí cảnh quan. Trong y học, hoa mào gà đỏ là một vị thuốc quý, có nhiều công dụng tuyệt vời mà có thể bạn chưa biết.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-1

– Tên thường gọi: cây hoa mào gà, mồng gà, kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa,…

– Tên khoa học: Celosia cristata L.

– Họ thực vật: Họ dền – Amaranthaceae.

* Mô tả:

– Hoa mào gà thuộc họ rau dền, cây thảo cao tới 60 – 90 cm, có thân thẳng đứng và phân nhánh, nhẵn. Lá có phiến hình trái xoan, có khi hình ngọn giáo nhọn.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-3

Lá của cây hoa mào gà đỏ.

– Hoa đỏ (và có nhiều màu khác nữa), có cuống rất ngắn, thành bông hầu như không cuống, thành khối dày, trông như cái mào gà. Quả hình trái xoan, gần như hình cầu, chứa 1 – 9 hạt đen bóng. Cây ra hoa vào mùa hè, quả vào tháng 9 – 11.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-2

Hoa của cây mào gà đỏ.

* Thành phần hóa học:

– Trong hoa mào gà còn có các chất dinh dưỡng và hoạt chất như chất đạm, chất béo, các axit folic, pantothenic, các vitamin B1, B2, B4,B12, C, D, E, K..nó có chứa 12 nguyên tố vi lượng, 50 loại men thiên nhiên, đặc biệt hàm lượng chất đạm (protein) lên đến 73% .

* Công dụng trong cảnh quan:

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-4

Cây mào gà đỏ trồng thành bồn hoa.

– Cây hoa mào đỏ nói riêng và các loài mào gà nói chung gà được sử dụng rất nhiều trong trang trí cảnh quan. Màu hoa đa dạng từ trắng, vàng, hồng , đỏ và màu sắc rất tươi tắn, rực rỡ. Hoa nở lâu tàn và cây dễ trồng, dễ chăm sóc là những điểm mạnh của loài cây này.

cay-canh-quan-duoc-lieu-cay-hoa-mao-ga-do-5

Cây mào gà đỏ trồng trong chậu.

– Có thể trồng hoa mào gà trong bồn cây, trồng thành mảng, trồng trong chậu, trồng phối hợp với các tiểu cảnh,… đều rất tuyệt vời.

* Công dụng trong y học:

– Theo Đông y thì  hoa mào gà có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, dùng chữa trĩ lậu,hạ huyết, thổ huyết, huyết lân, phụ nữ băng trung, xích bạch đới hạ, tiện huyết, niệu huyết. Cành và lá có tính năng và tác dụng tương tự như hoa cũng thường được dùng để cầm máu và chữa trị các chứng viêm loét.

– Bộ phận dùng: sử dụng chủ yếu là hoa của cây mào gà.

* Một số bài thuốc sử dụng bộ phận của cây hoa mào gà:

1. Chữa kinh nguyệt không điều hòa: bạn dùng cả cây hoa mào gà màu đỏ đã phơi khô 30 g,sau đó tán thành bột mịn, lúc đói bụng thì hòa bột mào gà đó với rượu để uống.

2. Chữa tử cung xuất huyết cơ năng: hoa mào gà 15 g, mai mực 12 g, đậu ván trắng 12 g, sắc  lên lấy nước uống hằng ngày sẽ rất tốt.

3. Chữa da nổi mề đay: dùng cả cây hoa mào gà nấu nước, uống nước này ngày 3-4 bát và kết hợp rửa ngoài chỗ da bị nổi mề đay.

4. Chữa rết cắn: giã nát cây hoa mào gà rồi đắp vào vết thương.

5. Chữa thổ huyết, khạc huyết, chảy máu cam:

– Hoa mào gà tẩm với giấm, đun sôi, rồi phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, mỗi lần uống 6 g, chiêu bằng rượu ấm.

– Hoa mào gà tươi 15-20 g, sắc lấy nước, rồi hầm với phổi lợn, ăn sau các bữa ăn.

6. Chữa dạ dày, ruột chảy máu, tử cung xuất huyết, đi ngoài ra máu, kinh nguyệt dài ngày: phơi khô hoa mào gà khoảng 10g, tán nhỏ, chia uống nhiều lần trong ngày, mỗi lần 1-2 g.

7. Chữa kiết lỵ: Hoa mào gà đỏ 15-20 g, sắc với nước uống. Nếu phân có lẫn máu thì cho thêm đường đỏ vào nước sắc hoa mào gà để uống.

8. Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9 g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, bạch truật 9 g, bạch linh 9 g, bông mã đề tươi 30 g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

9. Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn 10 g, sắc nửa rượu nửa nước uống.

10. Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24 g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, phòng phong 6 g, tông lư thán 10 g, sắc uống. Hoặc: Kê quan hoa và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 g.

11. Chữa bệnh trĩ bằng hoa mào gà:

– Đối với bệnh nhân bị đại tiện ra máu thì nên dùng hoa mào gà sao cho cháy lên rồi tán thành bột dùng để uống mỗi lần từ 6 – 9g, mỗi ngày uống 2 – 3 lần, hoặc hoa mào gà trắng 15g, Phòng phong 6g, Tông lư thán 10g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà 30g, Ngải diệp 30g sao đen, sắc uống.

– Người bị trĩ lở loét dùng hoa mào gà 3g, Ngũ bội tử 3g, một chút Băng phiến, tất cả bạn hãy tán thành bột rồi sau đó trộn bột đó với mật lợn dùng để bôi lên vùng loét.

– Việc chữa bệnh nên kết hợp với chế độ ăn uống kiêng khem thì sẽ có hiệu quả tốt hơn cho bệnh nhân mắc bệnh trĩ.

* Cách trồng và chăm sóc cây hoa mào gà đỏ:

– Nhân giống loài cây này thường dùng phương pháp gieo hạt. Trước đó 1 năm chọn bông hoa to, đẹp lấy hạt trong lông nhung, hong khô cất trữ, đến tháng 4-5 bắt đầu gieo. Thời gian gieo hạt nên chọn lúc nhiệt độ 20-25độ C. Trước khi gieo hạt cần phun một lần nước và bón một ít phân lên luống, sau 1-2 ngày.

– Sau khi gieo phủ lên một lớp đất mìn mỏng 2-3mm, rồi phủ chiếu hoặc cỏ che nắng; trong 2 tuần không tưới nước để tránh trọi cây con. Nếu đất quá khô có thể dùng vòi phun phun lên một ít nước, sau 1 tuần hạt nảy mẩm, bỏ hết vật che phủ, chờ khi cây mọc được 3 lá thật tiến hành tỉa thưa (nhổ cây con để cự ly 3-4cm), khi cây có 6cm tiến hành chuyển cây cấy, vào tháng 6 thì cây ổn định.

– Cây giống đưa vào trồng khi được 4 – 5 lá, chiều cao trung bình 6 – 7cm. Chọn những cây thân mập, không bị sâu lá, éo úa. Chọn cây lá to vừa phải, không to quá.

– Mào gà sinh trưởng trong môi trường không khí khô, đủ ánh sáng, đất cát, nhiều mùn. Tùy theo mục đích trồng trong giỏ (chậu) hoặc trồng trực tiếp ra luống mà chuẩn bị đất khác nhau. Do đặc điểm của bộ rễ hoa mào gà phát triển mạnh và ăn ngang nên chân đất thích hợp cho hoa mào gà là đất thịt nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dày và pH từ 6 – 6.5.Chuẩn bị đất: Đất thịt pha cát, phân chuồng hoai, tro trấu, xơ dừa theo tỉ lệ 2:1:2:1/2. Mỗi giỏ (chậu) cho vào 0,7 kg hỗn hợp.

– Nên bấm đọt vào giai đoạn cây cao 30, 40 cm để cây không vượt quá mức và giúp các chồi nách phát triển để tạo bông sau này sẽ đều mặt và đẹp, chỉ nên chừa 5 – 6 cặp chồi nách sẽ tốt hơn. Mào gà là loại cây dễ trồng. Muốn có hoa to, phải tỉa bớt tất cả các mầm non mọc ở nách lá và các hoa phụ.Tưới nước: Tưới nước vừa đủ ẩm, tưới quá nhiều nước sẽ ảnh hưởng xấu đến cây.

– Chỉ vun xới khi cây còn nhỏ, khi cây đã lớn thì hạn chế vun xới, nhất là sau khi bấm ngọn trở đi không nên vun xới vì lúc này rễ cây đã ăn ngang nhiều nếu xới sẽ đứt rễ. Tỉa nhánh yếu, mầm già ở gốc để cây không bị ảnh hưởng đến mức sinh trưởng.Tỉa nụ: Mỗi cành phát triển nhiều nụ, khi muốn có hoa to thì tỉa bỏ các nụ và nhánh ở mỗi nách lá, chỉ để lại 1 nụ ở cành chính.

Chanh Trần.

(Nguồn Internet).