Ảnh hồ sơ của Như Phượng

Giới thiệu:
Ổi là loại cây ăn quả chẳng còn xa lạ với ai, thường dùng quả để ăn như một trái cây giải khát, bổ sung vitamin. Nhưng ít ai biết ổi cũng được dùng làm gia vị trong một số món ăn đặc biệt ở một số vùng.
– Tên khoa học: Psidium guajava
– Họ: Sim – Myrtaceae

cay-oi-01

Mô tả:
– Cây ổi là loài cây gỗ nhỏ, cao từ 3-6 m, đường kính thân tối đa 30cm. Thân cây non có màu xanh, thân già màu nâu xám. Cây có nhiều lông mịn ở thân non, lá và các bộ phận của hoa.
– Lá đơn, mọc đối có cuống ngắn, không có lá kèm. Phiến lá hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Ở lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Gân lá hình lông chim, cuống lá màu xanh, hình trụ.
– Hoa to màu trắng, mọc từng chùm 2-3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá, màu trắng mỏng, dễ rụng khi hoa nở.
– Quả ổi là một loại quả mọng hình dáng thay đổi tùy theo loài như hình cầu, hình trứng hay hình quả lê. Vỏ quả mỏng, thịt giữa dày màu trắng, hồng, đỏ, vàng tùy loài. Bên trong thịt quả có rất nhiều hạt.
– Ổi ra hoa quả nhiều năm. Mùa hoa là  tháng 3-4 và mùa quả vào tháng 8-9.

cay-oi-02

Thành phần hóa học:
– Lá ổi chứa tinh dầu (0,31%) trong đó có dl-limonen, β-sitosterol, acid maslinic, acid guajavalic. Trong lá ổi non và búp non còn có 7-10% tanin pyrogalic, khoảng 3% nhựa. Cây, quả ổi có pectin, vitamin C. Hạt có tinh dầu hàm lượng cao hơn trong lá. Vỏ thân có chứa acid ellagic.

Công dụng:
a-Lá non và quả ổi được dùng làm rau:
– Do lá non và quả non của cây ổi có nhiều tanin nên có vị chát, ít được dùng làm rau. Tuy nhiên trong một số trường hợp ở một số địa phương cũng dùng lá và quả ổi non làm rau trong những món ăn đặc biệt.
-Ở Việt Nam, lá ổi non được xắt nhuyễn trộn với gỏi gà xé phay (gà luộc xé bằng tay, không dùng dao). Món gỏi này rất được ưa thích ở vùng hạ Long An, Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh…vì vùng này khó trồng được rau gia vị như rau răm, rau giấp cá…nên dùng lá ổi để thay thế.
– Lá ổi dùng gói nem ở Nha Trang, mực luộc lá ổi.

cay-oi-03
-Ở Trung Đông và Đông Nam Á quả ổi chua thường được dùng trong món salad trái cây.
-Ở Brazil quả ổi đỏ chín được sử dụng làm nước sốt, thay thế cho cà chua để giảm độ chua, tăng vị ngọt và mùi thơm hấp dẫn của ổi, nước sốt ổi được ăn với thịt nướng, bánh mì, khoai tây chiên…
-Ở Philippines, quả ổi chín được sử dụng trong nấu sinigang giống như món lẩu chua ở Việt Nam để ăn với cơm hay bún.
-Ở Cuba và Mexico lá ổi được sử dụng làm lớp vỏ bọc để nướng thịt (cừu, dê) trong các bữa tiệc thịt nướng.
b- Quả ổi chua và ổi chín dùng để ăn chơi:
– Quả ổi có thể được ăn tươi hoặc chế biến thành mứt đông hay đồ hộp nước ổi.

cay-oi-04
– Ở nhiều nước, quả ổi chua (ổi già) và ổi chín dùng để ăn sống như một loại quả ăn chơi. Ổi chua được chấm với muối ớt, muối tiêu.
– Ổi chua ngâm muối.

cay-oi-05
c-Quả ổi được chế biến thành thực phẩm, trà và nước giải khát:
– Ổi ép lấy nước uống, hay được chế biến đóng chai, kẹo hương vị ổi.
– Trà lá cây với dịch quả ổi chín làm thành “Trà ổi”. Món thạch ổi được dùng làm nhân bánh mì lát để ăn điểm tâm và ăn dặm kết hợp với uống nước “trà ổi”.

cay-oi-07
d-Các bộ phận của cây ổi dùng làm thuốc:

cay-oi-06

Các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân đều được dùng để làm thuốc.
– Dịch chiết các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm tiêu chảy.
 Lá ổi có vị đắng, tính ấm, có tác dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết; quả ổi vị ngọt hơi chua sáp, tính ấm, có công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng; các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp tính và mạn tính, thấp độc, thấp chẩn, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết…
-Quả ổi có tác dụng sáp trường, chỉ tả, thường dùng để sát trùng, rửa vết thương, trị tiêu chảy.
– Một tính chất quan trọng của ổi thường được sử dụng làm thuốc là tác dụng thu liễm, se da, co mạch, làm giảm sự xuất tiết và giảm sự kích thích ở màng ruột.  Tác dụng này được dùng rộng rải trong nhiều chứng tiêu chảy, thổ tả hoặc kiết lỵ.  Trong nhiều trường hợp rối loạn thuộc loại này, điều cơ bản là chống mất nước, giữ ấm người, bảo vệ khí hóa của Tỳ Vị.
– Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi đã dùng lá ổi giã nát hoặc nước sắc lá ổi để làm thuốc sát trùng, chống nấm, chữa các trường hợp lở loét lâu lành, làm giảm sốt, chữa đau răng, chữa ho, viêm họng.
– Thường được dùng trị viêm ruột cấp và mạn, kiết lỵ, trẻ em khó tiêu hóa. Lá tươi còn được dùng khi bị chấn thương bầm dập, vết thương chảy máu và vết loét.
d-Công dụng cảnh quan: thường được dùng làm cây bon sai.

cay-oi-08

Các bài thuốc dân gian:
1-Chữa vết thương do chấn thương hoặc trùng, thú cắn: Búp ổi non  nhai nát, đấp vào vết thương.
2-Chữa vết loét lâu lành ở chân, tay: Búp ổi, lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc, ngâm tay hoặc chân bị loét vào nước sắc lúc thuốc còn ấm. Mỗi ngày ngâm khoảng 2 hoặc 3 lần.
3-Chữa đau răng hoặc vết lở ở miệng: Có thể dùng một trong 3 cách:
-Nhai hoặc giã nát búp ổi non xát nhẹ vào nướu hoặc vào chỗ lở.
-Thêm một chút nước ấm và một tí muối vào khoảng 7 búp ổi non. Giã nát. Dùng một que tăm có bông gòn ở đầu thấm vào nước thuốc đã giã ra để lăn hoặc chà nhẹ vào nướu hoặc chổ lở.
-Lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc. Dùng nước sắc để súc miệng và ngậm vài phút trước khi nhả ra.
4-Chữa ho, sốt, viêm họng: Lá ổi non  20g đến 40g phơi khô, sắc uống.
5-Chữa tiêu chảy: Búp ổi 20g, Vỏ măng cụt 20g, Gừng nướng 10g, Gạo rang 20g Sắc uống.
6-Bách chiến tán chống dịch tiêu chảy cấp:ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn.
Búp ổi  200g, Vỏ cây sung 500g, Vỏ quít 20g, Gừng già 100g, Hạt cau già 10g, Nhục đậu khấu 150g.  Các vị thuốc xắt nhỏ, phơi khô, tán bột, phân vào những gói nhỏ, mỗi gói 6g.  Người lớn dùng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần một gói.
7-Chữa băng huyết: Quả ổi sao khô, đốt tồn tính, tán bột. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần khoảng 8g.
8-Chữa Viêm dạ dày, ruột cấp và mạn tính: Lá ổi non, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 6g, mỗi ngày 2 lần. Hoặc lá ổi 1 nắm, gừng tươi 6-9g, muối ăn một ít, tất cả vò nát, sao chín rồi sắc uống. Hoặc quả ổi, xích địa lợi và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15g, sắc uống.
9-Chữa Cửu lỵ: Quả ổi khô 2-3 quả, thái phiến, sắc uống; hoặc lá ổi tươi 30-60g sắc uống. Với lỵ trực khuẩn cấp và mạn tính dùng lá ổi 30g, phượng vĩ thảo 30g, cam thảo 3g, sắc với 1.000ml nước, cô lại còn 500ml, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 50ml.
10-Trẻ em tiêu hóa không tốt: Lá ổi 30g, hồng căn thảo (tây thảo) 30g, hồng trà 10-12g, gạo tẻ sao thơm 15-30g, sắc với 1.000ml nước, cô lại còn 500ml, cho thêm một chút đường trắng và muối ăn. Uống mỗi ngày: trẻ từ 1-6 tháng tuổi 250ml, 1 tuổi trở lên 500ml, chia uống vài lần trong ngày.
11-Mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, tất cả giã nát rồi đắp lên vùng tổn thương.
12-Trị đau bắp chuối: Rễ cây ổi, gừng tươi, đường phèn lượng vừa đủ, tất cả giã nát rồi đắp vào nơi bị bệnh.
Lưu ý. Không dùng ổi cho những người đang bị táo bón. Ruột ổi có thể làm nhuận trường nhưng chất chát trong lá ổi và vỏ ổi có thể gây táo bón.

Như Phượng
(Nguồn: Internet)