Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Apium graveolens L. var. Dulce DC

Chi họ: Chi Cần cạn, họ Hoa tán hay họ Cà rốt (Umbelliferae).

Tên Hán Việt: Cần thái, hạn cần, hương cần, dược cần.

 

cay-rau-can-tay

 

Mô tả cây rau cần tây:

  • Cây cao, có tuổi thọ gần 2 năm, thân mọc thẳng đứng, cao tới 1,5m, có nhiều rãnh dọc, chia thành nhiều cành. 
  • Lá ở gốc có cuống lá giữa và lá ngọn không có cuống, chia thuỳ hoặc không chia thuỳ. Hoa gồm nhiều tán, các tán ở đầu cành có cuống dài hơn các tán bên. Không có tổng bao, hoa nhỏ màu trắng nhạt. Quả dạng trứng, hình cầu có vạch lồi chạy dọc. Mùa hoa tháng 5, mùa quả tháng 7 – 9.

Thành phần chủ yếu:

  • Rau cần tây 90,5% là nước, 1,95% hợp chất nitơ, 0,07% chất béo, 1,15% xenluloza và 1,13% tro; vitamin A, B, C, các chất khoáng như magie, mangan, sắt, đồng, kali, canxi, vitamin P, cholin, tyrosin, axit glutamic. Khi chưng cất cho từ 2 – 3% tinh dầu không màu rất lỏng, mùi thơm đặc trưng. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là cacbua tecpen, d.jimonen, silinen, sesquiterpen stilbene, giaiacola, lactone sednolit và anhydrit secdanoit…

Công dụng của cần tây:

  • Thân dùng để ăn, có thể xào, trộn gỏi, muối chua.
  • Quả có thể chiết xuất tinh dầu.
  • Toàn cây và quả có thể làm thuốc, có tác dụng thanh nhiệt, trị ho, kiện vị, lợi tiểu và hạ huyết áp; trị ho suyễn, cao huyết áp, tiểu tiện ra máu, ói mửa, kinh nguyệt không đều…

Rau cần tây được phân bố  Trung Quốc, Việt Nam, có xuất xứ ở miền Tây Nam châu Á, Bắc Phi và châu Âu.

Ghi chú:

  • Rau cần có hai loại là cần nước và cần cạn. 
  • Cần nước chủ yếu sống nơi ẩm, thấp, ví dụ: bờ ao, bờ sông và ruộng úng. 
  • Cần cạn mọc ở nơi khô cạn. 
  • Cả hai đều là những loại rau ăn thường ngày, tính năng tương tự nhau, giàu dinh dưỡng, có tác dụng hỗ trợ điều trị mỡ máu cao, cao huyết áp, tiểu ra máu, nhiễm trùng hệ tiết niệu, táo bón v.v… Nhưng so với cần nước, cần cạn thơm hơn, làm thuốc tốt hơn nên còn gọi lá cần thơm, cần thuốc.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Toona sinensis (A.Juss.) Roem.

Chi họ: Chi Hương xuân, họ Xoan (Meliaceae)

Tên Hán Việt: Hương xuân, xuân nha thụ, hồng xuân.

cay-tong-du

 

 

Mô tả cây tông dù: 

  • Cây thân gỗ rụng lá, sống lâu năm, cao đến 25m.
  • Vỏ cây màu nâu sẫm, tróc từng mảng, cành non phủ lông mềm, cành giá thô to.
  • Lá dài rộng 3 – 4 cm, gân phụ 15 – 18 cặp, mặt dưới mốc.
  • Chuỳ hoa dài 20 – 80cm, hơi thõng xuống. Hoa màu hơi trắng, thơm; đài có rìa lông; tràng 5 cánh hoa, cao 4mm; nhị sinh sản 5, rời; nhị lép 5; bầu tròn, không lông.
  • Quả nang dài 1,5 – 3,3cm, rộng 1 – 1,5cm; hạt có cánh rộng màu nâu vàng. Mùa hoa tháng 5 -6, mùa quả tháng 9 -10.

Thành phần chủ yếu của cây tông dù:

  • Lá thân chứa protein và nhiều loại vitamin, còn chứa nhiều chất xơ và các nguyên tố vi lượng như calcium, phospho, sắt, kalium, kẽm…

Công dụng của cây tông dù:

  • Mầm cây và mầm hạt ăn được, chủ yếu là ăn tươi, có thể xào, trộn, cũng có thể muối, phơi khô.
  • Lá, thân tính hàn, vị đắng, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, kiện tì ích khí, sát trùng cố tinh và làm đẹp; ngoài ra còn có tác dụng hỗ trợ điều trị viêm ruột, bệnh lỵ, trĩ v.v…; vỏ, rễ tính mát, vị đắng chát, có tác dụng trừ nhiệt, táo thấp, cầm máu, sát trùng, thích hợp với các bệnh tả lị lâu ngày, băng lậu đới hạ, di tinh, bạch trọc v.v…; hạt có vị cay, đắng, tính ôn, có tác dụng khử phong, tán hàn, chỉ thống (giảm đau), có thể dùng điều trị cảm mạo phong hàn, đau dạ dày, thấp khớp, sa nang v.v…

Cây tông dù phân bố ở các quốc gia như: Trung Quốc, Việt Nam, có xuất xứ từ miền Trung – Trung Quốc.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Gynura bicolor DC.

Chị họ: Chi Tam thất thải, họ Cúc (Asteraceae).

Tên Hán Việt: Tử bối thái, huyết bì thái, quan âm thái, hồng bói thái.

 

rau-tu-boi

 

  • Cụm hoa dạng đầu có đường kính 1.5-2cm.
  • Phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng.
  • Mặt trên lá màu lục, phủ lông nhỏ, mặt dưới màu đỏ tím, không lông

Mô tả cây rau tử bối: 

  • Cây thân thảo rụng lá sống lâu năm, toàn cây mọng nước, thô to, thân thẳng đứng, cao 0.5 – 1m, phân nhiều nhánh, màu tím, có cạnh nhỏ, thân non phủ lông, sau biến thành không lông. 
  • Lá mọc so le, lá phần dưới thân có cuống, lá phần trên không cuống, phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 6 – 10cm, chóp nhọn dần hoặc nhọn gấp, mép có răng cưa thô, đôi khi phần dưới có một cặp thuỳ nông, mặt trên màu lục, phủ lông nhỏ, mặt dưới màu đỏ tím, không lông. 
  • Tháng 10 – 12 ra hoa, cụm hoa có đường kính 1,5 – 2cm, sắp xếp lưa thưa hình tán dù ở đỉnh thân, cuống cụm hoa cao vượt hẳn đỉnh thân. Mùa hoa vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Thành phần chủ yếu: 

  • Rau tử bối giàu Flavonoid và các nguyên tố vi lượng có ích cho cơ thể như sắt, mangan, kẽm v.v…; hàm lượng vitamin trong lá và ngọn non khá cao.

Công dụng của rau tử bối:

  • Ngọn non ăn được, hương vị độc đáo, là loại rau có ích cho sức khỏe, giúp cơ thể cường tráng;
  • Lá dùng làm thuốc, có tác dụng bổ máu, tiêu viêm, nhuận tràng, thanh thấp nhiệt v.v…. Có thể trị thống kinh, huyết khí hư, viêm phế quản.

Rau tử bối được phân bố chủ yếu ở Trung Quốc

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

 

Ảnh hồ sơ của eco-admin

Cây dược liệu Đông quỳ có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng, thanh nhiệt lợi thấp. 

 

ecolandscapevn-cay-dong-quy

Tên khoa học: Malva verticillata L.

Chi họ: chi Cẩm quỳ, họ Cẩm quỳ (Malvaceae)

Tên Hán Việt: Đông quỳ, Đông hiện thái, Đông hàn thái, Quỳ thái.

Mô tả cây đông quỳ:

  • Cây thân thảo sống một năm, cao 30 – 90cm, toàn cây phủ lông mềm. Thân thẳng đứng, phủ lông thưa hoặc không lông. 
  • Lá mọc so le, dạng bàn tay có 5 -7 thuỳ, hình tròn hoặc hơi tròn, phần gốc hình tim, mép có răng cưa cùn, cuống lá dài. 
  • Hoa nhỏ, mọc thành cụm trong nách lá, màu đỏ nhạt, hoặc trắng, có đường kính 1cm, mọc ở nách lá; lá dài phụ 3, hẹp; cánh hoa dài 5mm, ống nhị ngắn; nhuỵ có 10 lá noãn. Mùa hoa vào tháng 7 – 10, mùa quả tháng 10 – 11.

Thành phần chủ yếu của cây đông quỳ:

  • Lá chứa rutin, lipid, malvalic acid, còn chứa monose 6,8 – 7,4%, chaccarose 4,1 – 4,6%, đường mạch nha 4,5 – 4,8%, tinh bột 1,2%

Công dụng của cây đông quỳ

  • Lá non dùng làm rau ăn rất ngon. Chế biến bằng cách nấu canh, nấu cháo hoặc xào, trộn gỏi.
  • Dùng làm thuốc: thân, lá có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, chủ trị viêm gan vàng da; rễ có thể bổ trung ích khí, chủ trị khí hư mệt mỏi, lưng gối nhức mỏi, mồ hôi trộm, lòi dom, sa tử cung, viêm thận mạn tính, bệnh tiểu đường

Cây đông quỳ được phân bố chủ yếu ở: Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim