Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Synsepalum dulcificum Daniell.

Chi họ: Chi quả thần kỳ, họ Hồng xiêm hay họ Sa-bô-chê (Sapotaceae)

Tên Hán Việt: Thần bí quả, mộng ảo quả, kỳ tích quả.

Tên Tiếng Việt khác: Cây kỳ diệu.

than-ky

Mô tả cây thần kỳ: 

  • Cây bụi xanh, cao đến 2 – 5m, giống hình tháp nhọn.
  • Lá mọc nhiều tầng, thường mọc ở đầu cành hoặc so le ở thân chính, lá mới có màu lục nhạt, lá già màu lục sậm hoặc lục mực, lá có hành mác hoặc hình trứng ngược, mép nguyên chất da, gân bên mọc so le, mép lá hơi có hình gợn sóng.
  • Hoa mọc ở nách, tán hoa màu trắng sữa hoặc màu vàng nhũ, đường kính khoảng 0,6 – 0,8cm, có hương nước dừa.
  • Quả mọng màu lục hình bầu dục, dài khoảng 2 – 3cm, đường kính khoảng 1cm, khi chín có màu đỏ tươi, thịt quả bọc lấy hạt, hạt to khoảng một nửa quả, đầu đuôi gần giống hình quả trám.
  • Mùa hoa tháng 2 – 5, mùa quả tháng 4 – 7.

Thành phần chủ yếu của cây thần kỳ:

  • Chứa glycoprotein đặc thù.

Công dụng của cây thần kỳ:

  • Quả ăn được, thịt quả không ngọt nhưng có chức năng thay đổi vị giác;
  • Quả dùng làm thuốc, có tác dụng giã rượu, làm ốm và đẹp da.

Cây thần kỳ được phân bố  Trung Quốc, Đài Loan và có xuất xứ từ Ghana, Congo thuộc Tây Phi.

Ghi chú: Quả thần kỳ có chứa một loại Protein làm thay đổi vị giác: ăn quả thần kỳ rồi ăn trái cây vị chua có thể biến vị chua thành vị ngọt, rất kỳ diệu, đây chính là nguồn gốc tên gọi của cây thần kỳ. Do đó, quả thần kỳ thường được dùng làm chất hỗ trợ khi ăn thức ăn chua, hoặc chế biến thành chất biến vị đáp ứng nhu cầu ăn ngọt của người bị tiểu đường.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Apium graveolens L. var. Dulce DC

Chi họ: Chi Cần cạn, họ Hoa tán hay họ Cà rốt (Umbelliferae).

Tên Hán Việt: Cần thái, hạn cần, hương cần, dược cần.

 

cay-rau-can-tay

 

Mô tả cây rau cần tây:

  • Cây cao, có tuổi thọ gần 2 năm, thân mọc thẳng đứng, cao tới 1,5m, có nhiều rãnh dọc, chia thành nhiều cành. 
  • Lá ở gốc có cuống lá giữa và lá ngọn không có cuống, chia thuỳ hoặc không chia thuỳ. Hoa gồm nhiều tán, các tán ở đầu cành có cuống dài hơn các tán bên. Không có tổng bao, hoa nhỏ màu trắng nhạt. Quả dạng trứng, hình cầu có vạch lồi chạy dọc. Mùa hoa tháng 5, mùa quả tháng 7 – 9.

Thành phần chủ yếu:

  • Rau cần tây 90,5% là nước, 1,95% hợp chất nitơ, 0,07% chất béo, 1,15% xenluloza và 1,13% tro; vitamin A, B, C, các chất khoáng như magie, mangan, sắt, đồng, kali, canxi, vitamin P, cholin, tyrosin, axit glutamic. Khi chưng cất cho từ 2 – 3% tinh dầu không màu rất lỏng, mùi thơm đặc trưng. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là cacbua tecpen, d.jimonen, silinen, sesquiterpen stilbene, giaiacola, lactone sednolit và anhydrit secdanoit…

Công dụng của cần tây:

  • Thân dùng để ăn, có thể xào, trộn gỏi, muối chua.
  • Quả có thể chiết xuất tinh dầu.
  • Toàn cây và quả có thể làm thuốc, có tác dụng thanh nhiệt, trị ho, kiện vị, lợi tiểu và hạ huyết áp; trị ho suyễn, cao huyết áp, tiểu tiện ra máu, ói mửa, kinh nguyệt không đều…

Rau cần tây được phân bố  Trung Quốc, Việt Nam, có xuất xứ ở miền Tây Nam châu Á, Bắc Phi và châu Âu.

Ghi chú:

  • Rau cần có hai loại là cần nước và cần cạn. 
  • Cần nước chủ yếu sống nơi ẩm, thấp, ví dụ: bờ ao, bờ sông và ruộng úng. 
  • Cần cạn mọc ở nơi khô cạn. 
  • Cả hai đều là những loại rau ăn thường ngày, tính năng tương tự nhau, giàu dinh dưỡng, có tác dụng hỗ trợ điều trị mỡ máu cao, cao huyết áp, tiểu ra máu, nhiễm trùng hệ tiết niệu, táo bón v.v… Nhưng so với cần nước, cần cạn thơm hơn, làm thuốc tốt hơn nên còn gọi lá cần thơm, cần thuốc.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Portulaca oleracea L.

Chi họ: Chi Rau sam, họ Rau sam (Portulacea)

Tên Hán Việt: Mã xỉ hiện, trường mệnh thái, mã xà tử thái.

rau-sam

Mô tả cây rau sam: 

  • Cây thân thảo, mọng nước, sống khoảng một năm. Toàn cây trơn láng không lông, cao 20 – 30cm. Thân hình trụ tròn, nằm ngang hoặc xéo lên, phần gốc phân nhánh tứ tán, thường có màu đỏ nâu hoặc tím. 
  • Lá mọc so le hoặc mọc đối, cuống lá rất ngắn, phiến lá dày mọng nước, hình trứng ngược hoặc hình thìa, chó tròn cùn, có khi hơi khuyết, phần gốc hình chêm rộng, mép nguyên, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới màu đỏ sậm. 
  • Hoa lưỡng tính, tương đối nhỏ, màu vàng, thường có 3 – 5 bông, mọc cụm ở nách lá đầu cành, hoa 5 cánh, hình tim ngược. 
  • Hạt màu nâu đen, hình tròn trứng. 
  • Mùa hoa tháng 5 – 9, mùa kết hạt tháng 6 – 10.

Thành phần chủ yếu trong rau sam:

  • Lá và thân tươi non chứa protein, lipid, acid, chất xơ thô, carotene, vitamin B1, vitamin B2, vitamin C2, nicotinic acid, sắt, calcium, phospho..

Công dụng của rau sam: 

  • Rau sam, chứa nguồn dinh dưỡng phong phú, vị ngon có thể trộn, xào hoặc nấu canh…
  • Toàn cây làm thuốc; có tác dụng giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu chỉ thống.

Rau sam được phân bố khắp thế giới.

 

hoa-muoi-gio

Hoa mười giờ (Portulaca grandiflora)

  • Cùng chi với rau sam, hoa mười giờ đều là thực vật thân cỏ sống khoảng một năm, cũng là loại cây cảnh thường gặp. Hoa to, đường kính 5cm, cánh xếp chồng, có các biến chủng màu đỏ, màu tím nhạt, màu vàng, màu cam v.v… Hoa nở dưới ánh mặt trời, trời râm và buổi sớm tối nhiệt độ thấp thì khép lại, hầu như ra hoa quanh năm. Hoa mười giờ cả cây có thể làm thuốc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán ứ, tiêu thũng chỉ thống, trị sưng đau họng, bỏng, chấn thương; dùng ngoài thì giã lấy nước súc miệng hoặc chườm.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Lycium chinense Mill.

Chi họ: Chi Câu kỷ, họ Cà (Solanaceae).

Tên Hán Việt: Điềm thái tử, câu kỷ quả, câu kỷ đậu.

cau-ky-tu

Mô tả cây câu kỷ tử: 

  • Cây bụi phân nhánh nhiều; cành nhỏ yếu, thường cong hoặc nằm, màu xám nhạt, có gờ dọc, gai nhọn. 
  • Lá chất giấy, lá đơn mọc so le hoặc 2 – 4 chiếc mọc thành cụm, hình trứng, hình thoi dạng trứng, hình bầu dục dài, hình mác dạng trứng hoặc hình mác, chóp nhọn gấp hoặc cùn, phần gốc kéo xuống đến cuống lá thành hình chêm, mép nguyên, dài 1,5 – 5cm, rộng 0,5 – 2,5cm. 
  • Hoa mọc đơn ở nách lá trên cành dài, trên cành ngắn thường có 1 – 4 bông mọc thành chùm; cuống hoa dài 0,5 – 1,5cm. Đài hoa dạng chuông, dài 3 – 4mm, có 3 thuỳ hoặc 4 – 5 thuỳ răng; tràng hoa dạng phễu, dài 9 -12m, màu tím nhạt, phần ống ngửa lên mở rộng; nhuỵ hoa ngắn hơn tràng hoa; cành hoa hơi dài hơn nhuỵ hoa, phần trên cong vòm, đầu trụ màu xanh. 
  • Quả mọng màu đỏ, hình trứng d5ng bầu dục, chó nhọn hoặc cùn. Hạt hình thân, dẹt, dài khoảng 2,5mm, màu vàng. 
  • Mùa hoa tháng 6 – 9, mùa quả tháng 7 – 10.

Thành phần câu kỷ tử:

  • Trong hạt câu kỷ tử chứa carotene, thiamin, lactoflavin, niacin, ascorbic acid, β-Sitosterol, linoleic acid. Lá thân chứa carotene, vitamin B2, vitamin C, lipid thô, chất xơ.

Công dụng câu kỷ tử:

  • Cành lá non, quả ăn được.
  • Quả câu kỷ tử vị ngọt tính bình, nhập kinh can thận, vừa có thể bổ thận ích tinh, vừa có thể dưỡng gan sáng mắt, là vị thuốc bồi bổ rất tốt.

Cây câu kỷ tử được phân bố  Trung Quốc.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Pyracantha fortuneana (Maxim.) Li.

Chi họ: Chi Hoả cúc, họ Hoa hồng (Rosaceae).

Tên Hán Việt: Hồng tử, hoả bả quả, cứu quân lương.

hong-tu

Mô tả cây hồng tử:

  • Cây bụi xanh, cao đến 3m. 
  • Cành phụ nhỏ, chóp thành dạng gai, cành non ngoài phủ lông mềm ngắn màu gỉ, cành già không lông.
  • Lá mọc so le, kết thành chùm trên cành ngắn; cuống lá ngắn, không lông hoặc khi non có lông mềm; phiến lá hình trứng ngược hoặc hình tròn dài dạng trứng ngược, dài 1,5 – 6cm, rộng 0,5 – 2cm, chóp tròn cùn hoặc hơi thụt vào, đầu nhọn ngắn, phần gốc hình chêm, không kéo dài đến cuống lá, mép có răng cưa cùn, phần gần gốc mép nguyên. 
  • Hoa lưỡng tính, tụ thành cụm; cuống hoa dài khoảng 1cm; ống đài dạng chuông; có 5 phiến đài, hình tam giác, chóp cùn; cánh hoa hình tròn, màu trắng; có 20 nhuỵ, hoa màu vàng; trên bầu nhuỵ mọc đặc lông mềm màu trắng. 
  • Quả giống hình cầu, đường kính khoảng 5mm, màu đỏ quýt hoặc màu đỏ sậm. 
  • Mùa hoa tháng 3 – 5, mùa quả tháng 8 – 11.

Thành phần chủ yếu của cây hồng tử:

  • Quả chứa vitamin B1, B2, C và E, sắt, kẽm, linolenic acid, oleic acid, đường, β-Sitosterol v.v…; ngoài ra còn chứa 18 loại amino acid, trong đó có 8 loại cần thiết cho cơ thể. Rễ chứa tanin.

Công dụng của cây hồng tử:

  • Quả dùng ăn tươi, cũng có thể chế biến thành quả khô, mứt.
  • Là loại cây cảnh cho hoa vào mùa xuân, quả mùa đông.
  • Rễ làm thuốc, chủ trị đau gân xương.

Cây hồng tử được phân bố tại Trung Quốc.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Vitis vinifera L.

Chi họ: Chi Nho, họ Nho (Vitaceae)

Tên Hán Việt: Bồ đào, bồ đề tử, thảo long châu.

cay-nho

Mô tả cây nho:

  • Cây thân leo, chất gỗ rụng lá; vỏ thân màu nâu đỏ, khi già tróc rụng; râu cuộn cách quãng mọc đối với lá; lõi cành màu nâu. 
  • Lá mọc so le, hơi tròn hoặc hình trứng tròn, rộng 7 – 15 cm, có 3 – 5 thuỳ khuyết, mép có răng cưa thô. 
  • Cụm hoa dạng chùy mọc đối với lá; hoa nhỏ, màu lục vàng nhạt; đài hoa hình khay; có 5 cánh hoa; 5 nhuỵ đực; 2 bầu nhuỵ. 
  • Quả mọng hình bầu dục, khi chín có màu xanh, đỏ lục hoặc màu tím, phủ phấn mịn. 
  • Mùa hoa vào tháng 6, mùa quả tháng 9 – 10.

Thành phần chủ yếu của cây nho:

  • Chủ yếu chứa đường và các loại acid hữu cơ. Ngoài ra, quả nho còn có sắt, calcium, phospho, carotene, niacin, vitamin B1, B2, C v.v… và chứa hơn 10 loại amino acid.

Công dụng của cây nho:

  • Quả ăn tươi, hoặc phơi khô làm nho khô, cũng là nguyên liệu quan trọng để sản xuất rượu nho.
  • Có giá trị làm cảnh rất cao, là loại cây bắc giàn rất tốt trong lâm viên.
  • Quả nho dùng làm thuốc, có tác dụng bổ khí ích huyết, tư âm sinh nhược, phế hư ho lâu, can thận âm hư, tim d0ập loạn, mồ hôi trộm, lưng gối nhức mỏi, gân cốt rã rời, phong thấp tê đau, mặt chân tay phù thũng, tiểu tiện bất lợi.

Cây nho được phân bố  Trung Quốc, Việt Nam, có xuất xứ ở miền Tây Á, châu Âu.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Citrus grandis (L.) Osbeck.

Chi họ: Chi Cam chanh, họ Cửu lý hương (Rutaceae)

Tên Hán Việt: Dữu tử, văn đán, hương loan, chua loan.

cay-buoi

Mô tả cây bưởi: 

  • Cây thân gỗ xanh, cao 5 – 10m; nhánh nhỏ, cành non. 
  • Lá mới phủ lông mềm, lá kép mọc so le, có dạng hình bầu dục dài, hình bầu dục dạng trứng hoặc hình trứng rộng, dài 6,5 – 16,5cm, rộng 4,5 – 8cm, mép nguyên có dạng sóng nông. 
  • Hoa đơn hoặc cụm chùm, mọc ở nách; hoa màu trắng; nhuỵ hoa 25 – 45mm; bầu nhuỵ hình tròn dài. 
  • Quả hình trái lê, hình trứng ngược hoặc hình tròn, đường kính 5 -10cm, màu vàng chanh, vỏ dầy, có 10 – 18 múi. Mùa hoa vào tháng 4 – 5, mùa quả chín vào tháng 9 -11.

Thành phần chủ yếu của cây bưởi:

  • Quả chủ yếu chứa fructose, glucose, ngoài ra còn chứa protein, lipid, phospho, kalium, chất xơ và các dưỡng chất như niacin, vitamin B1, B2, C v.v… Ngoài ra, quả còn chứa các thành phần para-insulin, naringin, neohesperidin, dầu bay hơi v.v…

Công dụng của cây bưởi: 

  • Quả để ăn.
  • Hoa, lá, vỏ quả có thể chiết xuất làm dầu thơm
  • Quả dùng làm thuốc, có tác dụng tiêu thực kiện vụ, sinh tân chỉ khát, hoá đàm trị ho, nhuận tràng thông thiện; chủ trị ăn không tiêu, buồn nôn ói mửa, táo bón, ho mạn tính, thở khò khè, đàm nhiều v.v…

Cây bưởi được phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar.

 

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của Vân Phan

Tên khoa học: Gynura bicolor DC.

Chị họ: Chi Tam thất thải, họ Cúc (Asteraceae).

Tên Hán Việt: Tử bối thái, huyết bì thái, quan âm thái, hồng bói thái.

 

rau-tu-boi

 

  • Cụm hoa dạng đầu có đường kính 1.5-2cm.
  • Phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng.
  • Mặt trên lá màu lục, phủ lông nhỏ, mặt dưới màu đỏ tím, không lông

Mô tả cây rau tử bối: 

  • Cây thân thảo rụng lá sống lâu năm, toàn cây mọng nước, thô to, thân thẳng đứng, cao 0.5 – 1m, phân nhiều nhánh, màu tím, có cạnh nhỏ, thân non phủ lông, sau biến thành không lông. 
  • Lá mọc so le, lá phần dưới thân có cuống, lá phần trên không cuống, phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 6 – 10cm, chóp nhọn dần hoặc nhọn gấp, mép có răng cưa thô, đôi khi phần dưới có một cặp thuỳ nông, mặt trên màu lục, phủ lông nhỏ, mặt dưới màu đỏ tím, không lông. 
  • Tháng 10 – 12 ra hoa, cụm hoa có đường kính 1,5 – 2cm, sắp xếp lưa thưa hình tán dù ở đỉnh thân, cuống cụm hoa cao vượt hẳn đỉnh thân. Mùa hoa vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Thành phần chủ yếu: 

  • Rau tử bối giàu Flavonoid và các nguyên tố vi lượng có ích cho cơ thể như sắt, mangan, kẽm v.v…; hàm lượng vitamin trong lá và ngọn non khá cao.

Công dụng của rau tử bối:

  • Ngọn non ăn được, hương vị độc đáo, là loại rau có ích cho sức khỏe, giúp cơ thể cường tráng;
  • Lá dùng làm thuốc, có tác dụng bổ máu, tiêu viêm, nhuận tràng, thanh thấp nhiệt v.v…. Có thể trị thống kinh, huyết khí hư, viêm phế quản.

Rau tử bối được phân bố chủ yếu ở Trung Quốc

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

 

Ảnh hồ sơ của eco-admin

Cây lá lốt được biết đến như một loại rau dùng để nấu canh hoặc ăn sống. Ngoài ra lá lốt còn là một loại cây dược liệu được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.

 

ecolandscapevn-cay-la-lot

 

Tên khoa học: Piper sarmentosum Roxb.

Chi họ: Chi Hồ tiêu, họ Hồ tiêu (Piperaceae)

Tên Hán Việt: Giá lâu, Cáp lâu, Sơn lâu, Phong nhật hảo.

 

Mô tả cây lá lốt

  • Cây thân thảo sống nhiều năm; thân dài khoảng 10m, tròn hình trụ, đốt phình to. 
  • Lá mỏng chất giấy hoặc chất màng, có các điểm tuyến nhỏ, phần dưới hình trứng rộng hoặc hình tròn, chóp ngắn nhọn, phần gốc hình tim hoặc cắt phẳng, hai bên gần bằng nhau, mặt trên không lông, mặt dưới có lông mềm ngắn dạng phấn bám theo gân lá; lá có 5 – 7 gân, khi khô có màu trắng bệch, nổi rõ ở mặt dưới, cặp trên cùng cách gốc 1 – 2cm mọc ra từ gân giữa, đi lên theo hình cung đến đỉnh lá thì hợp với gân giữa, gân mạng rõ rệt; lá phần trên nhỏ, hình trứng hoặc hình mác dạng trứng, phần gốc hình trái tim nông, cuống lá dài 2 – 5cm.
  • Hoa đơn tính, đực cái khác cây, mọc thành cụm hoa, dạng bông mọc đối với lá. Hoa đực dài 1,5 – 2cm, cuống hoa dài bằng hoặc ngắn hơn cụm, phủ lông mềm ngắn dạng phấn rất mịn; trục cụm hoa phủ lông; lá bao hình tròn dẹt, gần như không cuống. Quả mọng hình cầu, có bốn cạnh, đường kính 2,5 – 3mm. Mùa hoa vào tháng 6 – 10.

Thành phần chủ yếu của cây lá lốt:

  • Đỉnh thân chứa acetone và các vitamin B1, B2, C v.v…

Công dụng của cây lá lốt:

  • Lá non ăn được
  • Lá và thân dùng làm thuốc, có tác dụng ôn trung tán hàn, khử phong lợi thấp, tiêu thũng chỉ thống; chủ trị lạnh đau đường ruột, ho phong hàn, phù thũng, sốt rét, đau răng, phong thấp, xương đau, ngã bị thương.

Cây lá lốt được phân bố chủ yếu ở: Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippine, Indonesia v.v…

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim

Ảnh hồ sơ của eco-admin

Mướp rắn là một loại quả có lớp vỏ giòn, vị thanh mát, thơm ngon. Mướp rắn là một đặc sản thường xuất hiện trong các nhà hàng sang trọng, khách sạn lớn.

 

Tên khoa học: Trichosanthes anguina L.

Chi họ: Chi Qua lâu, họ Bầu bí (Cucurbitaceae)

Tên Hán Việt: Xà qua, xà ti qua, xà vương qua.

Tên tiếng Việt khác: Mướp hổ, mướp Ấn Độ.

 

ecolandscapevn-cay-muop-ran-1

Mô tả cây mướp rắn: 

  • Cây thân thảo, bò dưới đất, sống khoảng một năm.
  • Bộ rễ tương đối phát triển, rễ con nhiều.
  • Thân tính bò, có 5 cạnh, màu lục, có lông mịn, đốt thân chính có thể mọc ra rất nhiều thân nhánh.
  • Lá dạng bàn tay, có 5 -7 thuỳ, mép nhiều răng cưa, mặt dưới lá có lông mịn, gân lá có dạng lan toả, cuống lá dài 5 -10cm, phủ lông mịn. 
  • Đực cái cùng cây khác hoa, mọc ở nách lá, cây có thể ra hoa cái liên tục. 
  • Quả hình thon, dài 40 – 120cm, đường kính ngang  3 -5cm, nặng nhất đến 3kg. Gốc và  ngọn quả nhọn, đầu cong, có nhiều vằn màu xanh. Quả trơn láng không lông, vỏ quả màu trắng xám, có phủ chất sáp.
  • Hạt có dạng hình chữ nhật, bề mặt xù xì, có hai rãnh nhỏ song song, màu cọ nhạt.
  • Mùa hoa tháng 6 – 7, mùa quả tháng 8 – 9.
  • Thành phần chủ yếu: Trong quả non có protein, carbohydrate và các dưỡng chất khác.

 

Công dụng cây mướp rắn:

  • Quả non, lá non và thân non ăn được; thịt quả mềm xốp, có thể trộn gỏi, xào hoặc nấu canh.
  • Quả dài ngắn không đều, màu vỏ đa dạng, có thể dùng làm cảnh.
  • Quả có thể làm thuốc, có tác dụng thanh thử giải nhiệt, lợi tiểu hạ áp

Cây mướp rắn được Phân bố chủ yếu ở: Trung Quốc, Đông nam Á và có vuất xứ từ Ấn Độ, Malaysia.

Cava tổng hợp – “Các loại cây có ích cho sức khoẻ” – Thiên Kim